Cái Muỗng – Tác Giả: Văn Quang ( Short Story About A Soldier & The Prison: Sơn La, in VietNam)

Cái Muỗng

 Những ngày đàu Xuân tôi đọc được một bài của Văn Quang.
Bài viết làm tôi xúc động, tôi mời quí vị chia xẻ với tôi niềm xúc động này.
Hoàng Hải Thủy

I. Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La thì “trại” được more “Cái Muỗng – Tác Giả: Văn Quang ( Short Story About A Soldier & The Prison: Sơn La, in VietNam)”

** Vietnamese most Famous Artist-Painter – ViVi ** Họa-sĩ Võ Hùng Kiệt ViVi

Tên thật: Võ Hùng Kiệt – Tên Thánh Rửa Tội: Michel
Ngày sinh: 14 tháng 7 năm 1945 – Sinh quán: Vĩnh Long
Bút hiệu: ViVi do ghép hai chữ đầu Việt Nam và Vĩnh Long (ký từ năm 1964 khi vẽ cho Tuổi Hoa)
Cựu Sư Huynh La San – Promotion 82 Nha Trang năm 1962
Tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn năm 1968.

Vượt biên năm 1981 và tạm định cư tại Montréal, PQ, Canada.
Sang Mỹ năm 1995 tạm trú tại San Diego tới nay.

Image

more “** Vietnamese most Famous Artist-Painter – ViVi ** Họa-sĩ Võ Hùng Kiệt ViVi”

Justin Trud. Canada’s prime minister went to the Metro – Tân Thủ Tướng Justin Trudeau “Chu Du Métro”

Trong ngày đầu vừa đắc cử, Tân Thủ tường Canada, Ông Justin Trudeau đã không quên đi một vòng ‘chu du Métro” để thân tình bắt tay & cám ơn các thường dân đã ủng hộ cho Đảng Tư-Do.
Anh chàng nầy tỏ ra rất  hoạt bát, hòa đồng & chịu chơi!
Hy-vọng Canada nói chung, và Québec nói riêng, sẽ có một tương lai khả quan hơn những năm tháng qua … 

VT Magazine
20-Oct-2015 

 

Canadian election 2015: Live news, photos and analysis – Đảng Tự Do vừa đắc cử !

Tối nay, 19- Oct – 2015, kết quả của cuộc tổng tuyển cử ở Canada vừa cho biết, Đảng Tự Do đã đắc cử với tổng số => “Party Liberal”:189 ghế.
Thủ-tướng mới của Canada là người con trai cả của cựu Thủ tướng Pierre Elliott Trudeau, Ô Justin Pierre James Trudeau.
Justin Trudeau sinh ngày 25 Tháng 12, 1971- 43 tuổi, tại Ottawa, Ontario, Canada. Vợ là Sophie Grégoire.

VT Magazine
more “Canadian election 2015: Live news, photos and analysis – Đảng Tự Do vừa đắc cử !”

Federal election 2015: What time do polls open and close across Canada? (19 Oct – 6:30 p.m.)

It’s voting day in the federal election on Monday, Oct. 19 and voters will be heading to the polls across Canada.

Polls are open for 12 hours on election day, but poll times vary depending on what time zone you’re in.

Voting hours across Canada (all times local):

  • Newfoundland Time: 8:30 a.m. – 8:30 p.m.
  • Atlantic Time: 8:30 a.m. – 8:30 p.m.
  • Eastern Time: 9:30 a.m. – 9:30 p.m.
  • Central Time*: 8:30 a.m. – 8:30 p.m.
  • Mountain Time*: 7:30 a.m. – 7:30 p.m.
  • Pacific Time: 7 a.m. – 7 p.m.

*Saskatchewan is a special case, as most of the province doesn’t observe daylight saving time. So even though the province is geographically in the Mountain Time Zone, most of the province observes Central Standard Time all year round. All voters need to remember is that voting hours for this election in Saskatchewan are from 7:30 a.m. to 7:30 p.m.
As long as you are in the building at your polling station before the polls close, you are still able to vote, even if there is a line-up.

IN DEPTH: Full coverage of the of the federal election across Canada

If your electoral district spans more than one time zone, Elections Canada decides one local time for voting throughout the district.

The electoral districts spanning more than one time zone are:

  • Labrador
  • Gaspésie–Les Îles-de-la-Madeleine
  • Kenora
  • Thunder Bay–Rainy River
  • Kootenay–Columbia
  • Nunavut

The correct voting hours will be listed on the voter information cards sent to residents living in these electoral districts.

Source: http://globalnews.ca/news/2284427/federal-election-2015-what-time-do-polls-open-and-close-across-canada/

 

 

Canada election: Harper, Mulcair and Trudeau in tight race !!

Canadians have started voting in fiercely contested parliamentary elections that could give them their first new leader in nearly 10 years.

Incumbent Conservative PM Stephen Harper is fighting for a rare fourth term but the frontrunner is Liberal leader Justin Trudeau, son of late prime minister Pierre Trudeau.

Canadian Liberal leader Justin Trudeau, center, clowns around with campaign team members Tommy Desfosses, left, and Adam Scotti after landing in Montreal, Monday, Oct. 19, 2015.

Justin Trudeau, seen here at the head of the human pyramid,
started the campaign in third place!
more “Canada election: Harper, Mulcair and Trudeau in tight race !!”

Canada 2015 Election – Ngày Bầu Cử Liên Bang tại Canada – The Leaders

After 78 days of campaign speeches, policy announcements, debates and rallies,
the five leaders will face the decision of the electorate tonight.

(Reuters/Canadian Press)

 

Canada 2015 Election

While the winner of the longest federal campaign in recent Canadian history may not even be known by the time night turns to morning, trends in the hours leading up to the final call will provide some key insights into how things could shape up. more “Canada 2015 Election – Ngày Bầu Cử Liên Bang tại Canada – The Leaders”

Xưng Tội – (Cán Bộ Cộng Sản) – Confession

Bài vừa nhận được khuya qua. 
Cám ơn tác giả Tưởng Năng Tiến và anh NHNghiêm đã chọn lọc bài rất tâm-ý độc giả.
Chúc mọi người môột ngày vui & an bình…
Thân ái,

VT Magazine

XƯNG TỘI

Trước năm 75, có mấy nguời cán bộ cộng sản nằm vùng bị truy lùng đến xin tá túc, và con có chứa họ dưới hầm nhà …
– Giúp đỡ tha nhân khi họ kêu cứu trong lúc bị hiểm nguy không phải là một cái tội.
– Nhưng thưa cha…
– Con cứ yên tâm ra về. Điều con làm hoàn toàn hợp với tinh thần bác ái của Chúa Ky Tô và văn hoá của dân tộc Việt. “Thương người như thể thương thân. Rét thời cho mặc, đói thời cho ăn”. Gia Huấn Ca cũng có dậy như vậy. Chúng ta không thể vì chính kiến hay lòng thù hận mà bỏ nguời ta đói khát trong cơn hoạn nạn; hoặc tệ hơn nữa là tố giác những kẻ ở bước đường cùng.
– Thưa vâng nhưng thưa …
– Cha hiểu …đó không phải lỗi của con. Nếu những kẻ được cứu giúp trong cơn hoạn nạn, sau này, trở mặt, lấy ân báo oán hoặc lại tiếp tục con đường tà đạo thì đó là tội lỗi của họ…
– Dạ vâng nhưng điều khiến con áy náy là…
– Là gì nữa”
– Là vì họ… vẫn còn dưới hầm nhà…
– Con nói sao”
– Thưa cha, qúi vị cán bộ cộng sản trốn dưới hầm nhà con vẫn còn sống ở duới đó cho mãi đến bây giờ.
– Ối, Giê Xu Ma…lậy Chúa tôi! Sao lại thế, hả con”
– Vì con vẫn chưa cho họ biết là cách mạng … đã thành công!
– Nhưng… sao… sao… con lại … lại … đãng trí đến như thế được”
– Tại con rút kinh nghiệm hồi kháng chiến chống Tây. Thuở ấy, bố con cũng chứa cán bộ cộng sản trong nhà; sau này, chính những nguời này đã “dàn dựng” để “nhân dân” mang ông cụ ra … đấu tố cho đến chết! Bởi vậy nên con sợ…
– Kể thì cũng như nuôi rắn trong nhà, đáng sợ thật chứ chả phải chuyện đùa!
– Xin cha giúp con…
– Thôi thế này con ạ, về lấy xi măng lấp luôn cái hầm nhà lại cho… xong! Đỡ được đứa nào hay đứa đó. Tội nghiệt này, xin Chúa nhân từ chứng giám, ta xin chịu thay con.
– Con xin lĩnh ý cha. I’m more than happy to do that !
-Tuy nhiên, việc làm này, cũng xin Chúa nhân từ chứng giám , con làm thì con chịu, không liên hệ gì đến cha hoặc bất cứ ai.

Tưởng Năng Tiến

more “Xưng Tội – (Cán Bộ Cộng Sản) – Confession”

True words of life quotes – Những lời thật… cho đời,

True words of life quotes – Những lời thật… cho đời,

 

Cuộc như cưỡi xe hai bánh, muốn giữ được thăng bằng, bạn phải luôn tiến tới.
Life is like riding a bicycle. To keep your balance, you must keep moving.

Albert Einstein

*******

Hãy chỉ cho tôi người anh kính trọng, và tôi sẽ biết anh là người như thế nào. Bởi anh đã cho tôi biết cách nhìn của mình về nhân loại.
Show me the person you honor, for I know better by that the kind of person you are. For you show me what your idea of humanity is.

Thomas Carlyle

*******

Giá trị của một người không nằm ở những thứ mà anh ta có, hay thậm chí là những điều mà anh ta làm, mà là bản chất của anh ta.
It is not what he had, or even what he does which expresses the worth of a man, but what he is.

Henri Frederic Amiel

*******

Bản chất thực sự của một người đàn ông xuất hiện khi anh ta say xỉn.
A man’s true character comes out when he’s drunk.

Charlie Chaplin

*****

Đánh giá một người qua những câu hỏi của anh ta chứ không phải là những câu trả lời.
Judge a man by his questions rather than by his answers.

Voltaire

*****

Chúng ta càng leo lên nấc thang xã hội, bản tính xấu xa càng đeo mặt nạ dày hơn.
As we ascend the social ladder, viciousness wears a thicker mask.

Erich Fromm

*****

Đừng hỏi tôi có gì, hãy hỏi tôi là ai.
Ask me not what I have, but what I am.

Heinrich Heine

*****

Hầu hết mọi người lãng phí phần nào đó của cuộc đời cố gắng thể hiện những phẩm chất mình không có.
Almost every man wastes part of his life attempting to display qualities which he does not possess.

Samuel Johnson

*****

Quần áo đẹp có thể giúp cải trang, nhưng ngôn từ ngốc nghếch sẽ để lộ một kẻ ngu xuẩn.
Fine clothes may disguise, but foolish words will disclose a fool.

Aesop

*****

Bạn căm ghét điều gì? Điều đó nói lên con người bạn.
What do you despise? By this are you truly known.

Frank Herbert

*****

Thân dê mà lốt cọp, thấy cỏ thì thích, thấy chó sói thì sợ, quên mất cả bộ da cọp đang khoác bên ngoài…
Dương Tử

 

 

Lịch Sử Lễ Tạ ơn – Thanksgiving Day… May the blessing of God be upon Us

LỄ TẠ ƠN-THANKSGIVING

(Tiếng Anh: Thanksgiving) là một ngày lễ hàng năm được tổ chức chủ yếu tại Hoa Kỳ và Canada. Có ý nghĩa lúc đầu là mừng thu hoạch được mùa và tạ ơn Thiên Chúa đã cho sống no đủ và an lành. Đây cũng là ngày nghỉ lễ chính thức, cho tất cả người lao động theo luật định tại Mỹ và Canada. 

Bữa tệc mừng lễ Tạ ơn của một gia đình tại Mỹ.

 Thanksgiving Day is a national holiday celebrated primarily in the United States and Canada as a day of giving thanks for the blessing of the harvest and of the preceding year. It is celebrated on the fourth Thursday of November in the United States and on the second Monday of October in Canada. Several other places around the world observe similar celebrations. Thanksgiving has its historical roots in religious and cultural traditions and has long been celebrated in.

  more “Lịch Sử Lễ Tạ ơn – Thanksgiving Day… May the blessing of God be upon Us”

không đề …

Bài vừa nhận được từ một Bằng-hữu
Cám ơn tác-giả Lê Anh Hùng và Người bạn bên kia bờ sông,

…đã Ý-thức gởi bài về nơi đây, như một lời chia-sẻ và xót xa cho những thăng trầm của Vòm Trời Magazine (Đặc-san Vòm Trời) trong thời gian vừa qua…

Trước sự cứng lòng của những thủ-đoạn ngây ngô và âm-mưu ảo vọng. nếu phải làm người… nhường bước để được kiên-trì & vững lòng với lý-tưởng Nhân-ái… Vị-tha và Bao-dung, thì âu giọt nước mắt cũng là nụ cười vậy …

Thân ái,
Vòm Trời Magazine
07/10/2015 – Montréal- Canada

il_570xN.249648549

***************************************************************************************************************************

Cài cắm và mua chuộc – thủ đoạn bẩn thỉu và nham hiểm của an ninh CS

“… Không chỉ chống lại Tổ quốc, chống lại nhân dân, chúng còn lén lút đâm sau lưng những người vẫn luôn dành cho chúng sự tin tưởng, tình thương yêu và tinh thần đồng đội cao cả.


Tôi nghĩ sau này,…   đám an ninh chính quy làm là sẽ phun ra tuốt tuồn tuột những “nhà dân chủ” hay “người đấu tranh” trá hình kia…” 

Lê Anh Hùng
30.09.2015

********

Từ chuyện Trung Quốc và Đông Đức…

Nguỵ Kinh Sinh là nhà hoạt động dân chủ và nhân quyền nổi tiếng thế giới của Trung Quốc. Ông được ví là “Cha đẻ của nền dân chủ Trung Quốc” hay “Nelson Mandela của Trung Quốc”, và từng 7 lần được đề cử giải Nobel Hoà bình. Sau nhiều lần bị bắt và hai lần bị kết án, với tổng cộng thời gian ngồi tù 18 năm, ông bị nhà cầm quyền Bắc Kinh trục xuất sang Hoa Kỳ vào ngày 16/11/1997, như là kết quả của cuộc mặc cả giữa Chủ tịch TQ Giang Trạch Dân với Tổng thống Bill Clinton.

Ngày 23/11/2014, giữa lúc phong trào đấu tranh đòi quyền phổ thông đầu phiếu do giới sinh viên Hồng Kông phát động diễn ra mạnh mẽ, trong bối cảnh phải đương đầu với đủ trò đánh phá bẩn thỉu và thâm độc của chính quyền cộng sản, ông đã viết bài “The Nobleness and Shameless of Politics” (tạm dịch: “Sự cao quý và vô liêm sỷ của chính trị”).

Trong bài viết của mình, ông đã vạch trần những âm mưu quỷ quyệt của nhà cầm quyền Bắc Kinh nhằm đánh phá phong trào “chiếm trung tâm” của giới trẻ Hồng Kông nói riêng và phong trào đấu tranh dân chủ ở Trung Quốc nói chung, như tung tin bịa đặt, cài người vào các tổ chức đối lập, thành lập tổ chức đấu tranh trá hình, mua chuộc giới truyền thông, v.v.

Một khi đã hiểu bản chất cộng sản thì những chuyện đó không khiến người ta phải quá ngạc nhiên. Thông tin có lẽ khiến nhiều người phải kinh ngạc ở đây là khi ông cho biết: “Tôi còn nhớ một lần phát biểu tại Humboldt University ở Berlin, trường đại học nơi Karl Marx từng nghiên cứu. Một vị cựu lãnh đạo đối lập của Đông Đức nói với tôi: Khi ngài nói về sự can thiệp của gián điệp cộng sản, ngài đã không nhấn đủ mạnh vào tầm quan trọng của vấn đề. Sau khi Đông Đức và Tây Đức thống nhất, chúng tôi phát hiện từ hồ sơ lưu trữ là 2/3 số người trong các tổ chức của chúng tôi đã từng làm gián điệp hoặc chỉ điểm.”

…đến thực tế Việt Nam

An ninh cộng sản có rất nhiều thủ đoạn để buộc đối tượng mà chúng nhắm đến phải làm việc với chúng. Đầu tiên, chúng lập hồ sơ theo dõi đối tượng, tìm hiểu kỹ càng từ học vấn, tính cách, sở thích…cho đến hoàn cảnh gia đình của đối tượng.

Nếu đối tượng bản lĩnh không vững vàng, dễ sa ngã thì chúng sẽ tìm cách dụ dỗ, mua chuộc để làm việc cho chúng. Trường hợp không mua chuộc được, chúng sẽ tìm điểm yếu của đối tượng để khai thác. Điểm yếu đó có thể là việc làm ăn kinh doanh vi phạm pháp luật, quan hệ ngoài vợ chồng nhưng sợ vợ hoặc chồng biết, v.v. Một khi đã nắm được “thóp” của đối tượng, chúng sẽ lật bài ngửa và “mặc cả” với họ.

Khi không tìm ra được điểm yếu khả dĩ nào khiến đối tượng phải khuất phục, chúng có thể doạ bắt giam, khởi tố rồi dụ dỗ đối tượng “hợp tác” với chúng, kèm theo những điều kiện hậu hĩnh, nếu không muốn ngồi tù. Thậm chí, chúng có thể lợi dụng sự mất cảnh giác của đối tượng, sử dụng những nhà đấu tranh trá hình gần gũi với đối tượng để gài bẫy rồi khống chế đối tượng.

Theo cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Vũ Bình, một nhà đấu tranh dân chủ kỳ cựu và nghiên cứu khá sâu về sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Đông Âu, trong giới đấu tranh có 3 loại làm việc cho an ninh cộng sản.

Loại thứ nhất là sỹ quan an ninh được đào tạo chuyên nghiệp, bài bản rồi chui vào phong trào đấu tranh dưới một vỏ bọc nào đó. Loại này chiếm khoảng 10% số tay chân an ninh. Tỷ lệ này không cao, vì những kẻ đã trải qua trường lớp an ninh chính quy thường khó che dấu nhân thân.

Loại thứ hai vốn là đặc tình của an ninh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trước khi được an ninh đưa vào phong trào dân chủ. Loại này chiếm khoảng 15-20%.

Loại thứ ba, chiếm đến 70-75%, ban đầu là người đấu tranh thực sự, nhưng bản thân hay gia đình có vấn đề, bị an ninh khai thác, khống chế rồi đi đến chỗ “hợp tác” với chúng. Loại này chiếm tỷ lệ lớn bởi thành phần đa dạng của giới đấu tranh, trong đó rất nhiều người bắt nguồn từ bức xúc cá nhân trước thực trạng xã hội hay hoàn cảnh bản thân, hay đấu tranh cho quyền lợi bản thân và gia đình. Vì thế, lập trường và bản lĩnh của họ thường không vững vàng, dễ dao động. Loại này vừa đông vừa nguy hiểm, bởi trong số đó có cả những nhân vật đã “thành danh” trong làng tranh đấu nên ít ai ngờ tới.

Trong một bài viết mới đây – “Chiến dịch mới của an ninh?” – blogger Người Buôn Gió nhận định, số dư luận viên và an ninh trá hình hiện chiếm tới 10% lực lượng tranh đấu. Từ kinh nghiệm của bản thân, chúng tôi cho rằng đó là một nhận định chuẩn xác, ít nhất là bởi mức độ… khiêm tốn của nó. 

Bài học xương máu

Bài viết này không nhằm mục đích gieo rắc nghi ngờ hay gây hoang mang cho những người đấu tranh nói riêng và những ai quan tâm đến vận mệnh nước nhà nói chung. Đơn giản, đây là thực tế không thể tránh khỏi mà bất cứ ai dấn thân vào con đường gian nan đó cũng đều phải đối mặt. Vì thế, tốt hơn hết là tất cả mọi người đều cần biết để đề phòng, hầu tránh tổn thất cho bản thân cũng như cho phong trào.

Bài học từ sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng hoà vẫn còn nguyên giá trị. Một trong những nguyên nhân quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất, khiến nền dân chủ non trẻ ở miền Nam Việt Nam sụp đổ một cách bi thảm chính là do đội quân gián điệp hùng hậu của cộng sản, với những điệp viên sừng sỏ như Vũ Ngọc Nhạ hay Phạm Xuân Ẩn. Đội quân này hoạt động tinh vi và quỷ quyệt đến mức, sau khi cụm tình báo chiến lược A.22 bị phá vỡ, 42 gián điệp từ
phủ tổng thống cho đến các cơ quan khác, trong đó có một “cố vấn” của tổng thống, bị bắt và bị toà kết án, ngay cả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng không tin đó là sự thật mà cứ cho rằng vụ việc là do CIA dàn dựng.

Khi chính quyền chưa nằm trong tay mà lực lượng gián điệp của cộng sản còn lợi hại đến như thế thì thử hỏi, một khi đã nắm cả hệ thống chính trị, chúng còn tá
c oai tác quái đến đâu?

Bất luận thế nào, nếu không đề cao cảnh giác, người đấu tranh rất dễ sa vào những cái bẫy mà cộng sản luôn giăng sẵn, để rồi hoặc là bị nắm hết thông tin bí mật của bản thân và tổ chức, hoặc là tham gia vào tổ chức trá hình do an ninh dựng lên, hoặc thậm chí là bị khống chế rồi đi đến chỗ làm tay sai cho chúng. Kết cục đó không chỉ là thất bại đau đớn của bản thân người trong cuộc, mà còn ảnh hưởng lớn đến công cuộc chung của nước nhà.

 

Nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc Ngụy Kinh Sinh

Nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc Ngụy Kinh Sinh

______________

Ghi Chú:

Là người phải đương đầu với bao mưu mô bẩn thỉu của những bộ óc “quái kiệt” nhất suốt 10 năm qua nên tôi chẳng lạ gì đám tay sai của an ninh cộng sản.

Không chỉ chống lại Tổ quốc, chống lại nhân dân, chúng còn lén lút đâm sau lưng những người vẫn luôn dành cho chúng sự tin tưởng, tình thương yêu và tinh thần đồng đội cao cả.

Tôi nghĩ sau này, khi chế độ cộng sản buôn dân bán nước ở Việt Nam sụp đổ – một kết cục tất yếu và chắc chắn chỉ còn tính bằng năm – điều đầu tiên mà đám an ninh chính quy làm là sẽ phun ra tuốt tuồn tuột những “nhà dân chủ” hay “người đấu tranh” trá hình kia.

Vì sao ư? Vì một lẽ đơn giản là càng sẵn sàng tha thứ, tôn trọng, thậm chí kính trọng kẻ thù công khai, người ta lại càng căm phẫn, khinh bỉ thậm chí ghê tởm những kẻ phản bội hay đồng đội trá hình. Dĩ nhiên, những kẻ sai khiến cũng chẳng coi chúng ra gì, và việc vạch mặt tay sai sẽ giúp “đỡ đòn” cho quan thầy của chúng.

*Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

—————————————————————————————-

Lê Anh Hùng
Lê Anh Hùng là một blogger tự do trẻ trong nước tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

NGƯỜI BÁN SÁCH TRÊN BÃI BIỂN NHA-TRANG –

Bài vừa nhận được từ một thân-hữu
Chân thành cám ơn tác-giả Phạm Tín An Ninh & anh NHNghiêm, người đã chuyển bài đến VT Magazine.
VT Magazine
06-Oct-2015.

_________________________________________________________________________________________

Tôi trở về thăm quê hương sau hơn mười lăm năm, kể từ ngày vượt biển ra đi. Tôi quyết định điều này qua bao nhiêu đêm ưu tư trằn trọc. Tôi chẳng còn ai thân quen bên ấy để về thăm.
Mẹ tôi mất hồi tôi mới lên năm. Cha tôi chết cuối năm 1977 trong trại tù cải tạo Đá Bàn, khi tôi đang ở một trại tù khác tận núi rừng Việt Bắc và mãi năm năm sau tôi mới nhận được tin buồn.
Đứa em gái mà tôi thương quí nhất, mang hình ảnh của người mẹ mà tôi chỉ còn mơ hồ trong ký ức, cũng đã kết liễu cuộc đời ở cái tuổi tưởng chừng lúc nào cũng có cả một bầu trời xanh bao la trước mặt.
Còn bạn bè tôi, thằng chết, đứa ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời. Biết là lần trở về này, rồi cũng chẳng khác gì cái ngày cách đây mười sáu năm, từ một trại tù miền Bắc trở về, tôi bơ vơ lạc lõng trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình.
Tôi cũng không có ý định về đây để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa. Những “hang động tuổi thơ”chắc cũng đã biến mất trước bao nhiêu giông tố năm nào bất ngờ ụp xuống.
Bây giờ chỉ còn sót lại chút ít trong lòng những người tha phương lưu lạc. Bản thân tôi có quá nhiều đớn đau và mất mát ngay trên chính cái thành phố một thời xinh đẹp này.
Tôi sợ phải nhìn lại cái quá khứ hãi hùng và tang thương đó. Tôi về chỉ để làm một điều, mà nếu không làm được, lòng tôi sẽ ray rứt khôn nguôi.
Có lẽ đến khi chết tôi vẫn không làm sao nhắm mắt.
Tôi về để tìm lại phần mộ của cha và em tôi, cải táng đem về an táng bên cạnh phần mộ của mẹ tôi trong nghĩa trang gia tộc ở quê tôi ngoài Vạn Giã.

Điều ước mơ của cha tôi, mỗi lần ông kể cho tôi nghe về mẹ tôi và chuyện tình khá lãng mạn nhưng cũng nhiều cay đắng của ông bà. Cha tôi được chôn cất sơ sài trên núi Đá Bàn, bên ngoài một trại tù cải tạo lúc xưa.
Còn em gái tôi, được gia đình một cô bạn thân chôn cất tại một nghĩa trang ngoài Đồng Đế. Khó khăn và may mắn lắm tôi mới tìm được tin tức về mộ phần của cha và em tôi sau hơn hai mươi năm. Nhờ một người bạn cùng tù với cha tôi, chính tay ông đã đào huyệt cho cha tôi; và gia đình cô bạn thân của em gái tôi, vượt biên từ năm 1978, hiện định cư tận bên Hòa Lan, cung cấp chi tiết và vẻ cả bản đồ hướng dẫn cho tôi.
Ngồi trên máy bay, tôi lo lắng đủ điều. Mộ em tôi nằm trong một nghĩa trang, dù chưa được xây, nhưng có tấm bia đúc bằng xi-măng nên có lẽ dễ tìm; nhưng phần mộï của cha tôi, nằm trong núi và cái trại cải tạo ngày xưa bây giờ đã biến thành một khu kinh tế mới. Gần ba mươi năm rồi, có biết bao sự đổi thay.
Cuối cùng thì tâm nguyện của tôi cũng hoàn thành được một nửa. Trái ngược với những lo lắng ban đầu, tôi dễ dàng tìm ra phần mộ của cha tôi. Mặc dù bối cảnh chung quanh thay đổi, nhưng bà con ở vùng kinh tế mới này đa số là dân thành phố bị cưởng bách “tự nguyện” lên đây, một số ngày xưa là lính và công chức. Biết đây là mộ của những người tù cải tạo, nên họ thương mà rào lại và giữ gìn. Những dịp cuối năm họ đều thắp hương, tảo mộ và kẻ lại tên trên những tấm bia bằng gỗ, dù đã rong rêu qua bao nhiêu mùa mưa nắng. Riêng phần mộ của em tôi, mò mẫm suốt cả hai tuần tôi vẫn tìm không ra. Cả khu nghĩa trang bây giờ thay đổi. Người chết nhiều quá. Nhiều ngôi mộ mới xây, nhưng cũng có một số đã được cải táng, dời đi nơi khác. Nhà cửa cất san sát bên nghĩa địa. Người sống bây giờ ở chung với người chết. Tôi bắt chướt người xưa khấn vái, xin hồn thiêng em tôi về chỉ cho tôi ngôi mộ của em nằm. Nhưng lời vái của tôi vẫn không thiêng.
Tôi thuê người cải táng phần mộ của cha tôi. Đi từng nhà trong khu kinh tế mới cám ơn lòng tốt của mọi người. Đưa hài cốt của cha tôi về an táng bên cạnh mẹ tôi, trong nghĩa trang gia tộc, thuê thợ xây lại tất cả những ngôi mộ đã bao nhiêu năm không có ai chăm sóc.
Còn một ngày nữa là hết hạn visa. Tôi muốn đi một vòng, tìm lại chút gì của Nha-Trang xưa. Mùa hè Nha-Trang bây giờ dường như nóng bức hơn ngày xưa. Tôi thuê một chiếc xích lô chạy dọc theo con đường Duy-Tân cũ. Vừa để cho mát, vừa muốn tìm lại những lùm cây dương ngày trước, thuở chúng tôi và bạn bè hẹn hò sau những lúc tan trường. Một số lùm dương vẫn còn đó, nhưng trơ trọi, điêu tàn.
Tôi bảo anh phu xe cho tôi xuống trường Võ-Tánh. Anh phu xe còn trẻ, thắng xe lại, ngạc nhiên. Tôi hiểu, nên tôi bảo tôi sẽ chỉ đường, anh cứ theo tôi. Ngôi trường cũ, nơi tôi có biết bao kỷ niệm của ba năm theo học, bây giờ không những cái tên trường, mà tất cả đều trở thành xa lạ. Những hàng cây phía trước không còn. Ngôi trường đứng chơ vơ, chẳng còn sót lại chút gì thơ mộng, gây trong tôi một cảm xúc bẽ bàng hơn là thương tiếc.
Bất giác tôi nhớ đến em tôi. Đứa em gái xinh đẹp dễ thương, đã cho tôi cái ấm áp của cả một gia đình, trong những ngày chúng tôi lớn lên không có mẹ. Em học bên trường Nữ Trung Học, nhưng thường đến đây chờ tôi để hai anh em cùng ra biển. Em tôi thích tắm biển, nhưng ngại đến đó một mình nên thường rũ tôi đi theo hộ tống. Tôi tha hồ làm tình làm tội mấy anh chàng muốn đến làm quen, tán tỉnh em tôi. Tôi đi bộ dọc theo bãi biển, tìm đến khu có nhiều cây dừa trước trường Bá-Ninh lúc trước, nơi ngày xưa em tôi thường ngồi ở đó.
Tôi đưa mắt nhìn một vòng từ xa. Nơi bậc xi măng tiếp giáp bãi cát, một người tàn tật đang khó nhọc dùng cánh tay duy nhất còn lại giữ thăng bằng trườn xuống.
Trông anh ta giống như một con cóc. Len lỏi trong đám người đi tắm, anh hướng về phía tôi ngồi. Lưng anh mang túi vải chứa đầy sách, và kéo lê trên cát một cái túi vải nữa, cũng toàn là sách. Anh lê lết từng quãng, từng quãng ngắn.
Bất ngờ anh ta ngước lên. Thấy tôi gật đầu chào, anh ta nhìn tôi cười rạng rỡ, để lộ hàm răng trắng. Khuôn mặt tuấn tú, râu quai hàm, vầng trán cao với mấy sợi tóc vắt ngang rất nghệ sĩ. Anh dùng bàn tay duy nhất lôi một cuốn sách trong túi vải đang nằm trên mặt cát và từ từ mở ra.
Tôi liếc qua. Cuốn sách có cái tựa viết bằng tiếng Anh, nói về chuyện chuyến tàu Titanic. Tôi nhớ đến cuốn phim cùng tên, mới quảng cáo rầm rộ trên truyền hình Nauy mà tôi chưa kịp đi xem.
Bỗng tôi tròn mắt ngạc nhiên khi nghe anh mở lời chào và giới thiệu cuốn sách bằng tiếng Anh mà anh phát âm rất lưu loát, không thua kém gì những người Việt đã sinh sống lâu năm ở nước ngoài.
Anh lầm tưởng tôi là người Nhật hay Đại Hàn gì đó. Tôi thán phục anh vô cùng và bảo với anh tôi là người Việt, định cư ở Nauy, nên trình độ tiếng Anh của tôi chỉ vừa đủ nói dăm ba câu xã giao, chứ làm gì có thể thưởng thức được văn chương.
Tôi cám ơn anh và móc ví ra định biếu anh một chút tiền, nhưng anh vội đưa tay ngăn lại
– Cám ơn anh, nhưng xin anh để dành tiền cho những người còn nghèo khổ hơn tôi.

Anh nhỏ nhẹ bằng một giọng thân thiện và lễ độ.
Câu nói và thái độ của anh làm tôi rất đỗi ngạc nhiên. Vì từ khi trình giấy thông hành vào nước, trước những người mang lon, đội mão đại diện cho cả môt quốc gia mà cũng không có được phong thái thanh tao như anh; và chẳng lẽ ở trong cái thành phố ”mũi nhọn du lịch” này lại còn nhiều người khốn khổ hơn anh ?
Tôi đành mua một cuốn sách để anh vui lòng nhận tiền, nhưng rồi thấy anh cứ loay hoay moi hết túi nọ đến túi kia, để tìm đủ tiền thối lại cho tôi.
Tôi muốn hỏi thăm anh vài câu, nhưng anh đã nhoẻn miệng cười và gật đầu chào tôi rồi vội vàng lết sang mấy người khách nước ngoài đang nằm phơi nắng trên hàng ghế phía trước.
Từ hôm ấy, hình ảnh người tàn tật bán sách trên bãi biển Nha-Trang cứ lẩn quẩn trong đầu và theo tôi về tới Nauy; để rồi nếu có ai đó lỡ lời nói điều gì không mấy tốt về những người nghèo khổ ở Việt nam, tôi có cảm tưởng như đang xúc phạm đến anh, người bán sách khả kính mà tôi bất ngờ được gặp.
Năm sau, tôi lấy một tháng hè về lại Việt nam. Lần này tôi mua vé và nhờ cha cô bạn của em tôi, từ Hòa Lan, cùng về với tôi. Ông là người đã giúp chôn cất em tôi ngày trước.
Tôi không ngờ là mình phải về lại Việt nam lần thứ hai. Một điều mà trước đây tôi không hề nghĩ tới.. Nhưng tôi phải làm tròn bổn phận của người anh với cô em gái, mà nếu trước kia tôi lo lắng cho nó chu đáo hơn, biết đâu bây giờ nó còn sống để cho tôi khỏi cảnh côi cút một mình.
Sau một chuyến bay dài, tôi mệt đừ người. Tôi trở về từ vùng Bắc Âu lạnh lẽo, bây giờ lại gặp cái nắng oi nồng của vùng nhiệt đới. Sau khi thuê khách sạn xong, tôi chạy ngay ra biển tắm.
Nằm dài trên bãi cát, tôi bỗng nhớ tới người bán sách năm xưa. Tôi thả bộ theo bờ biển về hướng mấy cái lều có bóng dáng nhiều người ngoại quốc đang từ khách sạn kéo ra, bỗng mắt tôi sáng lên khi nhìn thấy người tàn tật đang lê lết theo sau.
Cũng hai cái túi vải đựng sách. Đúng là anh tàn tật bán sách năm trước chứ còn ai. Tôi mừng thầm như sắp sửa được gặp lại con người mà bấy lâu nay tôi thường nghĩ tới với lòng mến mộ.
Tôi suy nghĩ làm cách nào để anh ta vui lòng nhận sự giúp đỡ của mình. Nhưng người tàn tật lúc nào cũng bám sát vào những người nước ngoài. Tôi để ý thấy người ta cũng không mua sách và chỉ cho anh tiền.
Tôi ngạc nhiên khi thấy anh ta cười, hớn hở nhận tiền rất điệu nghệ, không nghe anh nói cái câu thật tử tế mà một năm trước anh đã lễ phép nói vơi tôi “Cám ơn anh, nhưng xin anh để dành cho những người còn nghèo khổ hơn tôi”.
Một cái gì đó thật đẹp vừa bị sụp đổ trong lòng. Tôi cảm thấy người nóng hừng hực. Không biết là sức nóng giữa ban trưa hay vì máu nóng bốc lên đầu. Tôi cắm đầu chạy lao vào những đợt sóng cuồng nộ đang từ ngoài khơi đổ vào bờ.
Nước biển trong xanh, sóng biển như những cánh tay ôm tôi vào lòng vuốt ve, dỗ dành. Mặt nước mênh mông, trãi rộng đến những dãy núi mờ xanh tận cuối chân trời. Tôi nghe văng vẳng trong không gian như có ai đang dạo đàn bản Nha Trang Ngày Về.
Thiên nhiên phần nào giúp tâm hồn con người rộng mở và dễ cảm thông hơn.
Sau một hồi quần với sóng biển, tôi cũng tạm quên người tàn tật bán sách đã làm tôi hụt hẫng.
Nhưng khi vừa bước lên bờ cát thì tôi lại trông thấy anh ta đang o bế mấy người nước ngoài và đưa tay xin cả thức ăn thừa.
Tôi nghi ngờ, có thể là người tàn tật này không phải là người tàn tật năm xưa. Tôi đến gần hỏi thăm. Nhưng chưa hỏi hết câu hắn đã “Đ.m. cái khứa đói rã họng ra mà còn làm cao ấy hả. Chết mẹ nó rồi..”
Chỉ nghe cái giọng lỗ mãng của hắn, tôi đủ biết chắc hắn ta không phải là anh – người tàn tật bán sách mà năm trước tôi đã gặp -. Tôi theo người bán sách này với ý định hỏi thăm thêm về anh cho ra lẽ,
nhưng thấy hắn ta chẳng mấy tha thiết. Hắn di chuyển chậm, nhưng mắt hắn lại quan sát thật nhanh về những đám người đang xuống bãi ở quãng xa. Và khi đi ngang qua chỗ ngồi của người đàn bà bán cua luột, hắn hất hàm bảo: ” Đó, vợ khứa đó ! ”
Tôi liền chụp ngay cơ hội, hy vọng tìm ra manh mối. Nhưng khi tôi lân la lại gần, thấy chị bán cua luột này có vẻ nghiêm trang khác với những người bán hàng rong bình thường, tôi không biết phải bắt đầu làm sao. Tôi mua hết con cua này tới con cua khác mà chẳng ăn con nào.
Và cứ mỗi lần chị định quảy gánh đi chỗ khác, tôi gọi giật lại mua thêm một con nữa để giữ chân chị. Vừa lúc chị nhận ra người khách mua cua này cũng có gì khác thường, tôi buột miệng :
“Chị là vợ của người tàn tật bán sách trên bãi biển này mấy năm trước ?”. Chị ngớ người ra, im lặng nhìn tôi. Có lẽ thấy tôi là một người xa lạ sao lại tò mò vào một chuyện riêng tư.
Tôi kể cho chị nghe cái cảm tình đặc biệt mà tôi đã dành cho anh ấy. Tôi muốn tìm cách giúp anh một phần nào nỗi thống khổ tật nguyền. Tôi tha thiết muốn biết về anh. Dường như những lời chân thật của tôi làm cho chị xúc động. Chị nhìn tôi, đôi mắt thật buồn:
– Em không phải là vợ của anh ấy. Tụi em cùng cảnh khổ nên đùm bọc lấy nhau mà sống. Một số người đùa, gán ghép tụi em rồi quen gọi thế thôi, anh ạ. Anh ấy đã chết cách nay hơn tám tháng. Em đã lo chôn cất anh ấy.
Lòng tôi thắt lại, một phần vì cảm thương anh trong cảnh khốn cùng, một phần ân hận là giá năm trước mình tìm cách giúp đỡ anh, biết đâu đã cứu được anh. Tôi có ý muốn nhờ chị đưa tôi ra mộ để thắp cho anh nén hương. Chị ngại ngùng nhưng cuối cùng gật đầu hẹn bốn giờ chiều chờ tôi trước khách sạn tôi ở.
Tôi thuê chiếc taxi, và xin phép cùng ngồi với chị ở băng ghế sau để dễ dàng trò chuyện. Trên đường ra nghĩa trang, chị say sưa tâm tình cùng tôi, như từ lâu lắm chị không có dịp nói ra những điều bao năm dấu kín trong lòng.
Chị tên Trang. Cha chị trước kia là một trung sĩ địa phương quân, bị thương năm 1968, trong trận tết Mậu Thân, nên được giải ngũ. Mẹ chị mất từ khi chị còn bé lắm. Cha chị không chịu tục huyền mà ở vậy nuôi đứa con độc nhất của mình.
Nhờ số tiền trợ cấp ban đầu, ông mua được một căn nhà tôn trong khu dành cho thương phế binh, nằm phía sau ga xe lửa. Ông xin được cái chân bán vé cho hãng xe đò Phi Long ở bến xe Xóm Mới. Lương ba cọc ba đồng cộng với tiền hưu bỗng hàng tháng, ông dành dụm cố lo lắng cho cô con gái học hành. Năm 1974, xong lớp 12, chị thi đậu vào trường sư phạm.
Sau ngày Nha-Trang “giải phóng”, chị bị loại ra bởi lý lịch “ngụy quân” của cha. Lúc này, gia đình trở nên bi đát. Cha chị, tất nhiên, không còn được lãnh tiền hưu bỗng ngày trước, chị không tìm ra bất cứ việc gì làm. Cuối cùng cha chị đành phải bán một nửa căn nhà vốn đã chật chội để mua một chiếc xích lô làm phương tiện sinh nhai. Còn chị thì đi bán hàng rong từ dạo ấy.
– Đến bây giờ ông cụ vẫn còn đạp xích lô ? Tôi tò mò hỏi.
– Ông mất lâu rồi anh ạ. Tội nghiệp, ông thương anh Bá lắm, xem anh ấy như con.
Tôi ngạc nhiên :
– Anh Bá nào ?
– Người tàn tật bán sách đó.
Đến bây giờ tôi mới biết tên của anh.
Chị cho biết anh Bá ngày xưa là trung úy phi công. Máy bay của anh bị bắn rơi vào những ngày Sài gòn nguy khốn, khi yểm trơ cho mặt trận Long Khánh của Sư Đoàn Tướng Le Minh Đảo.
Anh được anh em bộ binh tiếp cứu, nhưng anh bị thương rất nặng, phải đưa về tổng y viện Cộng Hòa. Sau cuộc giải phẫu khá dài, anh tỉnh lại. Nhưng khi biết được mình bị mất hai chân và một cánh tay, anh ngất xỉu và hôn mê suốt cả một tuần.
Ngay sau khi Sài gòn vừa “giải phóng”, anh bị đuổi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa khi vết thương chưa lành. Gần hai tháng sau cha em gặp anh ấy trên bến xe Xóm Mới. Biết được phần nào hoàn cảnh thương tâm, cha em lấy xích lô chở anh về nhà chăm sóc vết thương và anh sống với cha con em từ dạo ấy.
– Anh ấy không có thân nhân. Tôi hỏi
– Anh có một cô em gái ở đây, nhưng mà chết lâu rồi. Ban đầu không nghe anh nói điều này. Mãi sau này thấy trên đầu giường của anh có thờ tấm ảnh của một cô con gái và có nhiều đêm rất khuya anh ngồi bất động trước tấm ảnh, cha em hỏi mấy lần, anh mới bảo đó là cô em gái duy nhất của anh.
– Anh không còn bạn bè ?
– Nghe nói anh đang học một khóa phi hành ở đâu bên Mỹ, rồi nhờ có trình độ anh ngữ khá, anh được lưu lại Mỹ làm sĩ quan liên lạc không quân. Nghe tin miền Nam nguy khốn, anh tình nguyện xin về chiến đấu. Vừa về nước, anh ra chiến trường ngay và bị nạn khi đang bay phi vụ thứ hai. Có lẽ vì vậy mà không nghe anh nhắc tới bạn bè.
Xe dừng lại, tôi bước xuống trả tiền và bảo anh tài xế chờ tôi hoặc có thể quay lại sau 30 phút. Tôi bước vào nghĩa trang khi lòng còn vương vấn một câu chuyện buồn. Tiếng chuông nhà thờ từ đâu vọng lại càng làm cho lòng tôi chùn xuống. Đi quanh co một lúc, chị Trang bảo tôi dừng lại và chỉ cho tôi ngôi mộ của anh Bá, nằm bên cạnh ngôi mộ của cô em gái. Cả hai ngôi mộ được xây bằng đá đơn giản, trên tấm bia có cả tấm ảnh.
Tôi ngạc nhiên khi thấy trên mộ bia anh Bá có hình một thập tự giá, vì đây là nghĩa trang Phật giáo. Tôi đến trước mộ anh, thắp ba nén hương thâàm khấn vái cho anh được sống an bình trong một thế giới chẳng còn thù hận, và nói lên lòng cảm mến của một người đồng đội cũ.
Tôi nhìn kỹ tấm ảnh của anh trên mộ bia, tấm ảnh chụp lúc anh còn là sinh viên sĩ quan không quân, phong độ, hào hùng. Trông khuôn mặt quen quen. Có lẽ do bộ quân phục làm tôi nhớ tới khuôn mặt của những bạn bè ngày trước.
Tôi bước sang mộ cô em gái, thắp ba nén hương cho một người không hề quen biết. Tôi tò mò bước lên xem tấm ảnh trên mộ bia. Bỗng đầu óc tôi choáng váng, mắt tôi mờ đi như chẳng còn trông thấy những gì trước mặt.
Trời ơi, có điều gì lầm lẫn hay không ?
Người trong tấm ảnh chính là An Bình, cô em gái yêu dấu của tôi.
Tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh, mở đôi mắt thật to để nhìn kỷ lại tấm ảnh. Không thể lầm lẫn được. Chính tấm ảnh của em tôi mà tôi vẫn treo trên bàn thờ cùng với ảnh của cha và mẹ của tôi. Tôi vẫn thường đứng hằng giờ trước những tấm ảnh này mỗi khi thấy mình quá đỗi cô đơn trên xứ lạ quê người. Làm sao tôi có thể nhầm lẫn được. Bỗng dưng tôi khóc sụt sùi.
Trang nhìn tôi ngạc nhiên :
– Anh có quen biết em gái anh Bá ?
Tôi im lặng không trả lời, bảo chị cùng đi với tôi. Chiếc taxi vẫn còn đợi tôi tự nãy giờ.
Tôi móc bóp tìm địa chỉ của cha cô bạn thân của em tôi, đã từ Hòa Lan về đây trước tôi hai ngày, và chúng tôi hẹn gặp nhau ngày mai.
Bác trọ ở nhà một người em trong khu cầu Xóm Bóng. Tôi đưa địa chỉ cho anh tài xế. Chỉ hơn năm phút sau là anh ta đã tìm được.
May mắn là bác có ở nhà. Tôi xin lỗi bác là đã đến tìm bác sớm hơn ngày hẹn. Báo cho bác là tôi đã bất ngờ tìm được mộ của em tôi.
Xin bác cùng đi với tôi ra nghĩa trang để xác nhận lại vị trí ngôi mộ của em tôi mà ngày trước bác đã có lòng chôn cất hộ.
Trở lại nghĩa trang, tôi đề nghị bác dẫn đường, như muốn để xác minh chắc chắn là bác biết rõ ngôi mộ ấy.
Bác mò mẫm gần 30 phút mới tìm được ngôi mộ của em tôi. Bác ngạc nhiên là ngày ấy bác chỉ kịp dựng một tấm bia, chứ không có xây mộ đá như bây giờ, và trên bia cũng chỉ có tên chứ không có hình ảnh của em tôi.
Tự nãy giờ Trang vẫn còn ngạc nhiên, không biết rõ việc gì. Tại sao cô gái này là em gái duy nhất của anh Bá mà cùng là em gái của tôi ? Tôi xin lỗi vì xúc động quá, tôi sẽ kể cho Trang nghe trên đuòng về nhà.
Tôi đưa cha cô bạn của em tôi về lại nhà trọ, cám ơn bác và hẹn gặp lại bác vài hôm sau. Trên đường về, tôi kể lại cho Trang nghe về hoàn cảnh của gia đình tôi. Tôi đi lính xa nhà, mỗi năm chỉ về phép một đôi lần.
An Bình, đứa em gái duy nhất của tôi ở Nha-Trang với cha tôi. Ông là một thầy giáo, ngày xưa dạy ở trường Pháp-Việt lúc tôi mới lên ba.
Sau ngày về hưu ông được bà con mời làm chủ tịch hội đồng xã. Ông bị bắt vào trại cải tạo Đá Bàn sau ngày Nha-Trang ”giải phóng”, rồi vì tuổi già sức yếu, không chịu nổi sự tra tấn, ông đã chết gần một năm sau đó.
Em gái tôi nối nghiệp cha, sau khi tốt nghiệp ở trường sư phạm Qui Nhơn, vì hoàn cảnh gia đình, được về dạy ở Nha trang. Có lần tôi về phép, em kể cho tôi nghe về mối tình của em với một chàng sinh viên sĩ quan không quân.
Em có đưa cả tấm ảnh cho tôi xem và hẹn sẽ giới thiệu với tôi khi chàng ta ở Mỹ trở về.
Em lo lắng vì anh là người Bắc di cư, công giáo, không hiểu có khó khăn gì cho cuộc hôn nhân. Tôi bảo nó yên tâm, ba tôi theo tây học, nên ông quan niệm về tôn giáo rộng rãi lắm.
Sau khi cha tôi vào trại cải tạo, căn nhà của chúng tôi bị chính quyền mới tịch thu để làm hợp tác xã mua bán. Em tôi không được tiếp tục dạy học nữa nên ra Xóm Bóng ở chung với cô bạn học nối khố tự ngày xưa, chắt chiu số tiền còn dành dụm được để thăm nuôi cha tôi.
Ngay sau ngày Sài-gòn mất, em có vào tìm thăm tôi và người yêu của cô. Hơn hai tuần đi thăm hỏi khắp nơi, em tôi về nằm khóc cả mấy ngày liền, nói với tôi là người yêu của nó đã chết mất xác ở chiến trường Long-Khánh.
Tôi an ủi em tôi, bảo nó về Nha-Trang cố gắng thay tôi lo lắng cho cha, chờ ngày cha và tôi trở về sum họp. Tôi vào tù hơn sáu tháng, hai lần được phép gởi thư về nhà, vẫn không thấy em gái hồi âm. Cho mãi trước khi được chuyển ra Bắc, tôi mới nhận được thư của cô bạn thân của nó, báo tin là nó không kiếm được việc gì làm, túng quẫn, buồn chán, nên đã uống nguyên một ống thuốc ngủ. Gia đình cô chở vào bệnh viện, nhưng không cứu được, vì không tìm ra thuốc giải.
Chị Trang suy nghĩ miên man và như chợt nhớ ra được điều gì. Chị bảo khi còn sống, anh Bá không đi làm vào ngày chủ nhật. Anh đi lễ nhà thờ rồi ra mộ suốt cả ngày.
Chính anh đã dành dùm tiền bạc thuê người xây lại ngôi mộ và mua phần đất dành cho mình. Khi chôn cất anh xong, chị tìm thấy một tập nhật ký dấu kỹ dưới đầu giường. Chị vẫn còn để trên bàn thờ, chờ ngày giáp năm thì đốt luôn.
Chị bảo tôi cùng về nhà với chị, để chị trao lại cuốn nhật ký, kỷ vật duy nhất của một người cùng sống chung trong cảnh khốn cùng với cha con chị trong gần ba mươi năm, và bây giờ mới biết đó là người yêu của cô em gái thương quí của tôi.
Chị bảo taxi dừng lại trước một ngõ tắt phía sau ga xe lửa. Tôi trả tiền, theo chị băng qua hai con đường sắt, đi quanh co theo mấy con hẻm thì đến nhà.
Tôi xin phép thắp hương trước bàn thờ của ba chị và Bá, trên một cái kệ nhỏ bằng gổ treo trên vách. Tôi khẩn khoản xin chị nhận một số tiền để chăm sóc ngôi mộ của ông cụ, em gái tôi và Bá, một ít làm vốn buôn bán để đỡ vất vả hơn xưa. Tôi xin nhận Trang là cô em kết nghĩa và từ nay Trang là ngưỡi thân quen duy nhất của tôi còn lại ở Nha-Trang.
Chia tay, tôi đi bộ về khách sạn, cầm theo cuốn nhật ký trên tay, mà cứ tưởng như mình vừa nhận một món quà quí giá của người thân gởi về từ một cõi nào đó thật xa xăm.
Ngày 2/5
Vết thương còn đau đớn và máu còn thấm đỏ qua mấy lớp băng, vậy mà mình bị người ta đuổi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa, trong hoàn cảnh tứ cố vô thân. May mắn nhờ một ân nhân nghèo nhưng lại giàu lòng bác ái, đùm bọc, nuôi nấng và chăm sóc vết thương.
Nhiều lần, trong vực sâu tuyệt vọng, mình không muốn sống thêm một ngày nào nữa, nhưng lòng mình lúc nào cũng hướng về chúa Kitô, và xin phó thác tất cả ở nơi Ngài.
…….
Ngày 20.6
Cuối cùng, thì mình quyết định trở về Nha-trang, bởi lẽ mình không còn có một chỗ nào khác để trở về. Mình về đây để tìm lại những kỷ niệm đẹp đẽ nhất của đời mình, của những ngày mình còn có An-Bình. Từ ngày gặp An-Bình, mình nghĩ là mình đã thuộc về Nha-Trang, miền thùy dương rạt rào thơ mộng này. Đau đớn thay, hôm nay mình chẳng phải là mình ngày trước, mà chỉ là một kẻ tật nguyền thê thảm. Mình sẽ không bao giờ gặp lại An-Bình, mà chỉ mong về đây để được sống với hình ảnh của nàng

Ngày 08/7
Ngày hôm nay có lẽ là ngày đau đớn nhất trong đời mình. Đau đớn hơn cả cái ngày mình tỉnh dậy trong quân y viện và biết mình trở thành một người tàn phế.
Mình lê lết khắp nơi hỏi thăm tin tức An-Bình, được biết là em đã quyên sinh.
An-Bình ơi, xin em hãy tha thứ cho anh. Trong vận cùng của một đất nước mà anh chỉ là một thằng lính hèn mọn nhỏ nhoi, làm sao có thể giữ được bầu trời Nha-Trang này cho em, và cho những kỷ niệm của chúng mình..
Một hồi chuông nhà thờ làm tôi giật mình. Ngẫng đầu lên mới biết mình đang đừng trước nhà thờ đá. Tôi thẩn thờ bước lên những bậc “tam cấp”, đến trước tượng Đức Mẹ. Tôi là người ngoại đạo, không biết phải cầu nguyện như thế nào. Tôi chấp hai tay trước ngực, kính cẩn xin Thiên Chúa Từ Bi và Đức Mẹ Maria cứu vớt linh hồn của hai người hoạn nạn và xin cho họ được cùng phục sinh với Chúa để tình yêu của họ mãi mãi vĩnh hằng trong một thế giới bình an, không còn có hận thù.
Tôi không còn ý định dời ngôi mộ em tôi về bên cạnh cha mẹ tôi. Tôi về quê, quỳ trước mộ cha mẹ tôi để xin phép được xây lại hai ngôi mộ của em tôi và Bá chung trong một vòng thành. Không ai có quyền chia rẽ họ thêm một lần nữa, dù bây giờ chỉ còn là một thế giới vô hình.

Cũng như lần trước, ngày cuối cùng, tôi thuê xích lô đi một vòng dọc theo con đường Duy Tân cũ. Con đường đẹp nhất của Nha-Trang. Những cơ sở công quyền, những dinh thự của cán bộ bây giờ đựơc dựng lên nguy nga đồ sộ.
Nhìn lá cờ màu đỏ trên mấy nóc nhà, bỗng dưng tôi lạnh toát cả người. Chẳng lẽ những thay đổi “to lớn”ấy mà phải xây trên máu xương, trên những đớn đau, chia lìa thảm khốc của bao nhiêu thế hệ đã từng một thời góp sức tạo nên cái thành phố hiền hòa thơ mộng này.

Bỗng chốc, tôi không còn nhìn thấy thành phố Nha-Trang đâu nữa. Trước mắt tôi bây giờ chỉ còn là một bãi tha ma, dài ra, vô tận. Tôi nghe trong gió văng vẳng tiếng đàn dạo bài Nha-Trang, mà ngày xưa đài phát thanh Nha-Trang dùng làm nhạc hiệu mở đầu. Tôi nhớ tới cái chết thảm khốc của nhạc sĩ Minh-Kỳ, tác giả bản nhạc quen thuộc một thời này, ông cũng đã bị giết vào tháng 8/75, khi cùng bị nhốt chung với tôi trong trại tù cải tạo An Dưỡng, Biên Hòa.

Phạm Tín An Ninh
(Vương Quôc Na-Uy)

 

Truyện Ngắn: Một Buổi Tối Mùa Thu – Short Story of Maxim Gorki

Một buổi tối mùa thu

Truyện ngắn của: Maxim Gorki 
Mùa thu năm ấy, tôi tròn mười sáu tuổi, đúng vào độ tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất của đời người. Thế nhưng lúc bấy giờ tôi lại lâm vào hoàn cảnh thật khó khăn, khi vừa đặt chân đến một thành phố xa lạ mà trong túi cũng vừa cạn tiền. Sau khi bán sạch những gì có thể bán được, chỉ giữ lại trên người những thứ tối cần thiết để che thân, tôi rời khỏi thành phố, lê bước đến vùng Ustche.
Cảng sông này có những bến tàu thông thường rất nhộn nhịp, nhưng giờ đây vắng vẻ im lìm vì đã vào những ngày cuối năm.

Chân bước ngập ngừng trên đường, mắt chăm chăm nhìn xuống nền cát ẩm hy vọng kiếm được mẩu thức ăn thừa, tôi lầm lũi vượt qua những ngôi nhà khang trang, những quầy hàng to lớn, đầu óc cứ bị ám ảnh với ý nghĩ giá mà có được một bữa no nê thì không gì hạnh phúc hơn.
Trong tình trạng của tôi lúc bấy giờ, cái đói của tâm hồn được thỏa mãn nhanh chóng hơn cái đói của thể xác. Lang thang trên các con phố, quan sát những căn nhà đẹp đẽ cả bên ngoài lẫn nội thất bên trong, điềâu ấy gợi cho người ngắm những ý nghĩ vui thích về kiến trúc, về trang trí và về nhiều cái cao cả khác. Kể cả những con người tôi gặp cũng thế, ai nấy đều ăn mặc tươm tất, ấm áp và lịch lãm. Tuy nhiên, hầu hết họ đều cố tình lảng tránh một tay cầu bơ cầu bất như tôi. Có lẽ do bản tính tế nhị, họ không muốn nhìn thấy một sự thật đau lòng là trên đời lại có những kẻ dáng vẻ thảm hại dường kia.
Trời sụp tối. Cơn mưa bất thần ập tới. Gió bấc giật từng cơn, luồn lách qua những cửa hàng rồi va đập vào khung cửa sổ của các khách sạn. Gió hung hãn xô từng đợt nước sủi bọt ầm ầm lên bờ, tung những bọt nước lên cao, hăm hở nhảy qua đầu nhau rồi cuống quýt kéo ngược về hòa vào dòng nước ngầu đục phía sau.

 

Dường như dòng sông cảm nhận mùa đông đang tới gần nên hoảng hốt chạy trốn lớp băng giá mà gió bấc sẽ tàn nhẫn phủ trùm lên nó trong đêm.
Bầu trời càng lúc càng nặng nề u ám. Hai cây liễu gục ngã dưới trận cuồng phong tạo nên một hình thù quái gở càng làm tăng vẻ thê lương của trời đất. Một chiếc thuyền độc mộc thủng đáy nằm úp sấp bên cạnh gốc cây, trông già cỗi và thảm thương. Cảnh hoang tàn bày ra khắp xung quanh trong khi trời vẫn không ngừng tuôn suối lệ.
Tôi đi trên mặt cát ướt lạnh lẽo, răng va vào nhau lập cập vì đói và lạnh. Vòng ra phía sau một quán hàng, tôi kiên nhẫn tìm kiếm bất cứ thức gì ăn được cho đỡ đói lòng và đột nhiên trông thấy một bóng người thấp thoáng trước mắt. Tôi đứng phắt lại và chăm chú nhìn. Có vẻ như người ấy đang lom khom dùng tay bới đám cát ở phía dưới quán hàng. Tôi bèn nhẹ nhàng ngồi xổm bên cạnh và cất tiếng hỏi:
– Cậu bới cát làm gì thế?
Người đó khẽ kêu lên với giọng sợ hãi và đứng phắt dậy, quay sang nhìn tôi bằng đôi mắt mở to đầy hốt hoảng. Tôi nhận ra đó là một cô gái trạc tuổi mình với dáng vẻ dễ thương, có thể gọi là xinh xắn nếu không có ba vết tím bầm to tướng trên mặt. Những vết bầm này được sắp xếp hết sức cân đối, hai vết bằng nhau ở dưới mỗi mắt còn cái thứ ba nằm ngay giữa trán. Sự hài hòa này cho thấy đây là công trình của một chuyên gia sành điệu trong việc làm hỏng diện mạo người khác.
Cô gái chăm chú nhìn tôi và vẻ sợ hãi trong mắt cô mất dần. Cô phủi hai bàn tay dính đầy cát, sửa lại chiếc khăn san trên đầu và bình thản nói:
– Anh cũng đang đói phải không? Nào, phụ với tôi đi, tôi mỏi tay quá rồi. Trong quán này chắc chắn phải có bánh mì…
Không nói không rằng, tôi bắt đầu bới cát. Cô gái ngắm nghía tôi một hồi rồi ngồi xuống và hai chúng tôi lẳng lặng đào tiếp. Quả thực lúc ấy tôi không hề bận tâm đến luật pháp, đạo đức hay tất cả những luân lý ở đời mà một công dân gương mẫu phải luôn tâm niệm. Giây phút đó tôi đặt hết tâm trí vào việc bới cát và chỉ nghĩ một điều là cố gắng đột nhập được vào trong cái quán ấy.
Bóng tối ẩm ướt và giá rét mỗi lúc một dày đặc chung quanh. Tiếng sóng vỗ bờ to hơn trước, mưa càng nặng hạt hơn trên những mái nhà. Tiếng mõ của người gác đêm giục lên xa xôi.
– Quán này có sàn không nhỉ? – Người phụ việc của tôi khẽ hỏi. Tôi chưa hiểu rõ ý cô muốn gì nên im lặng.
– Anh nghe này. Nếu quán có sàn gỗ xem như chúng mình nhọc công vô ích. Đào hố xong thì sẽ gặp những tấm ván dày, làm thế nào bật lên được? Tốt hơn là nên bẻ khóa.
Thế đấy, phụ nữ ít khi sử dụng đến đầu óc, nhưng khi hữu sự họ lại có thể nảy ra những ý tưởng tuyệt vời. Tôi vẫn luôn đánh giá cao những ý nghĩ sáng giá ấy và tìm cách vận dụng bằng mọi cách có thể được. Vậy là tôi mò mẫm tìm ổ khóa và nhanh chóng nạy tung ra. Nhanh như cắt, cô bạn mới quen của tôi luồn vào bên trong và reo lên hoan hỉ:
– Anh thật cừ khôi!
Đối với tôi, một lời khen nhỏ nhặt của phụ nữ bao giờ cũng quý hơn cả một bài văn chúc tụng tràng giang đại hải của nam giới, nhưng lúc bấy giờ tôi chẳng hề để tâm đến lời khen của cô gái mà hồi hộp hỏi với giọng cụt lủn:
– Có cái gì không?
Cô bắt đầu kể ra những món trước mắt:
– Có cái thùng đựng chai, mấy cái túi xắc, chiếc dù, cái phuy sắt…
Toàn những thứ không ăn được! Tôi bắt đầu cảm thấy thất vọng thì nghe giọng cô cất lên hớn hở:
– A, nó đây rồi…
– Chết, ai thế?
– Bánh mì… một chiếc bánh mì tròn… có hơi bị ướt. Này, cầm lấy!
Ổ bánh mì lăn ngay tới chân tôi và tiếp đó, cô bạn tòng phạm dũng cảm của tôi cũng trở ra. Tôi rứt một mẩu bánh bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến.
– Kìa, đưa cho tôi với chứ! Và mau mau rời khỏi đây thôi. Nhưng… ta đi đâu bây giờ nhỉ?
– Đằng kia có chiếc thuyền lật úp… Chúng mình có thể chui vào đấy.
Thế là hai chúng tôi vừa nhai bánh mì vừa vội vã chạy đến chỗ trú ẩn. Mưa vẫn tuôn xối xả cùng với tiếng sóng gào thét ầm vang. Gió rít từng cơn nghe như tiếng huýt sáo ngân dài đầy vẻ giễu cợt, tựa như một người khổng lồ đang cười nhạo mọi sự trên đời, mỉa mai cái buổi tối mùa thu ảm đạm này và chế giễu cả thân phận đáng thương của hai chúng tôi. Một nỗi đau đớn âm thầm len lỏi vào tim, tuy thế miệng tôi vẫn không ngừng nhai và cô gái bên cạnh tôi cũng nhiệt tình không kém trong việc này.
– Tên cô là gì? – Tôi hỏi bâng quơ.
– Natasa – Cô lơ đễnh trả lời.
Tôi q+uay sang nhìn cô mà lòng đau thắt, cảm thấy số phận của chúng tôi cũng đen đủi chẳng khác gì bóng tối mênh mông đang ngự trị chung quanh. Mưa không ngớt vỗ vào ván thuyền, giọt dài giọt vắn gợi lên những ý nghĩ buồn thảm. Gió phi nước đại dọc bờ sông hoang vắng, lướt trên dòng nước ngầu bọt và cất lên những điệu ru não nuột. Gió lùa vào đáy thuyền thủng, lọt qua khe hở làm lay động một mảnh vỏ gỗ. Mảnh vỏ kiên cường bám lấy ván thuyền, vật vã cất tiếng kêu thảm thiết đầy lo lắng. Mưa tuôn xối xả hòa với tiếng sóng vỗ bờ tạo thành âm thanh tựa như tiếng thở dài phát ra từ lòng sâu của trái đất, chắc hẳn đang chán ngán và mệt mỏi trước sự đổi thay đột ngột của thiên nhiên.
Chỗ ẩn náu bên dưới con thuyền thật bất tiện vì chật chội và ướt át. Chúng tôi ngồi im lặng, run cầm cập vì rét. Natasa tựa lưng vào mạn thuyền, hai tay bó gối và tì cằm lên đầu gối. Cô nhìn chằm chằm vào khoảng không, khuôn mặt mờ mờ trắng và những vết tím bầm ở dưới mắt làm cho đôi mắt có vẻ quá to. Dáng ngồi bất động và câm nín ấy khiến tôi dần dần cầm thấy e sợ, vì vậy tôi muốn gợi chuyện với cô nhưng chưa biết nên mở đầu thế nào. Chính cô lên tiếng trước:
– Cuộc sống khốn kiếp!…
Cô thốt rõ ràng từng tiếng, với giọng điệu biểu lộ một niềm tin sâu sắc về điều mình vừa thốt ra. Cái giọng nói quá đỗi lãnh đạm ấy không có vẻ gì là than vãn cả. Chẳng qua cô tập trung mọi suy nghĩ để đi đến một kết luận hiển nhiên rồi bật ra thành lời. Tôi không thể phản đối cái kết luận đúng đắn ấy nếu không muốn mâu thuẫn với chính mình, do vậy tôi tiếp tục im lặng. Còn cô, dường như chẳng buồn để tâm đến mọi sự, vẫn ngồi không nhúc nhích.
– Giá cứ chết quách đi cho rảnh…
Natasa lại lên tiếng, giọng nói lần này khẽ khàng và cũng không phải là lời than vãn. Rõ ràng sau khi suy nghĩ về cuộc sống, cô gái đã nhìn lại bản thân và đi đến một kết luận chắc như đinh đóng cột rằng muốn dứt khỏi những hệ lụy của cuộc đời này thì không còn cách gì tốt hơn là chết quách đi cho rảnh”.
Tôi đau nhói lòng về cách suy nghĩ rành mạch ấy và cảm thấy nếu cứ giữ im lặng thì đến phát khóc mất, mà như thế thật xấu hổ trước mặt phụ nữ. Tôi quyết định nói chuyện với cô, nhưng nghĩ mãi không ra câu gì nên hỏi bừa:
– Ai đánh cô thế
– Paska chứ còn ai.
– Nhưng Paska là ai?
– Người yêu.
– Anh ấy vẫn thường đánh cô à?
– Cứ nốc rượu vào là đánh.
Bỗng nhiên cô gái nhích lại gần tôi rồi bắt đầu kể lể. Hóa ra cô làm cái nghề bán thân nuôi miệng. Còn Paska là thợ bánh mì, có bộ ria hung quyến rũ, biết chơi đàn accordeon, luôn khoác chiếc áo bành tô rất mốt và đi đôi ủng thật hách. Anh ta thường lân la đến xóm bán hoa và khiến cô chết mê chết mệt bởi tính tình xởi lởi và bề ngoài bảnh chọe. Tuy nhiên Natasa kể rằng Paska lại chỉ chuyên “ăn quỵt”, không những thế, anh ta còn tìm cách moi tiền của cô để đi uống rượu, rồi khi ngà ngà say lại đánh đập cô. Nhưng nếu chỉ có thế thôi thì còn chịu được, đằng này Paska lại còn là kẻ phản bội:
– Anh biết không, hôm kia tôi đến nhà Paska định rủ đi chơi. Không ngờ gặp con Dunka đang ngả ngớn ngồi uống rượu ở đấy. Tôi nổi cơn thịnh nộ: “Mày là đồ đểu giả, đồ bịp bợm”. Thế là hắn đánh tôi mềm người, hết đấm đá lại giật tóc. Cái đó cũng chẳng sao, tôi quen rồi. Nhưng hắn còn xé rách hết xống áo, cả áo ngoài, áo trong, cả khăn quàng đầu nữa…
Đến đấy, bỗng nhiên cô nức lên, giọng nói não nuột đến chạnh lòng: Lạy Chúa! Làm thế nào bây giờ? Tôi phải ăn nói sao với bà chủ đây?
Gió gào rít mỗi lúc một mạnh hơn và hai hàm răng của tôi bắt đầu va vào nhau lập cập. Cô gái cũng co ro vì lạnh, xích sát vào tôi đến độ có thể nhìn thấy tia sáng trong ánh mắt cô:
– Đàn ông đúng là một lũ hèn hạ. Tôi muốn chà đạp lên tất cả các người. Nếu có kẻ nào lăn đùng ra chết thì tôi sẽ càng hả dạ chứ chẳng hề thương hại. Bình thường thì cứ xán đến, khoe mẽ như những con chó đực trơ tráo. Nhưng hễ cô gái khờ khạo nào hiến thân cho các người là tàn đời. Bấy giờ các người sẽ thản nhiên giẫm đạp họ dưới chân mình. Đồ đểu giả!
Cô sử dụng ngôn ngữ vỉa hè lưu loát, nhưng những lời chửi rủa của cô không kịch liệt và tôi cảm thấy có vẻ như cô không hề căm hờn những quân đểu giả . Nói chung, giọng cô điềm đạm, ngữ khí không phù hợp với nội dung. Tuy nhiên, cái giọng buồn thảm ấy tác động đến tôi còn mạnh mẽ hơn cả những bài diễn văn bi hùng, sôi nổi và có sức thuyết phục nhất mà trước đây và cả về sau này tôi từng được nghe.
Bỗng dưng tôi thấy khó chịu trong người, chẳng biết vì lạnh hay vì lời lẽ của cô bạn đang ngồi bên cạnh. Tôi khẽ rên lên, cố nghiến răng chịu đựng. Ngay lúc đó, tôi cảm thấy đôi bàn tay nhỏ bé lạnh giá của cô chạm vào mình. Một tay sờ vào trán, tay kia cô thận trọng áp vào mặt tôi đồng thời cất tiếng nhỏ nhẹ:
– Anh làm sao thế?
Trong một thoáng tôi tưởng chừng như đó là người nào khác hỏi tôi chứ không phải là Natasa, cô gái vừa mới tuyên án tất cả đàn ông đều là những kẻ đê tiện và cầu mong cho họ chết ráo cả đi. Natasa hỏi với giọng lo lắng:
– Anh làm sao thế? Lạnh à? Sắp rét cóng hả? Ồ, hay chưa, thế mà cứ ngồi im thin thít? Đáng lẽ phải báo cho tôi biết ngay chứ. Nào, nằm dài xuống, duỗi hai tay ra. Tôi sẽ nằm lên anh. Bây giờ hãy ôm lấy tôi, cả hai tay ấy, ôm thật chặt vào. Đúng rồi. Chỉ một chốc anh sẽ thấy ấm ngay. Lát nữa chúng mình lại nằm quay lưng vào nhau, cốt sao cho qua cái đêm này. Đừng nghĩ ngợi gì cả. Mọi việc rồi sẽ ổn thôi…
Cứ thế, cô an ủi tôi, động viên tôi. Trong khi đó, bản thân tôi thì đang tự nguyền rủa mình! Thật mỉa mai cho tôi biết chừng nào! Thử nghĩ mà xem, hồi ấy tôi thật sự quan tâm đến số phận nhân loại, mơ ước thay đổi trật tự xã hội, ôm ấp lý tưởng chính trị cao xa, nghiền ngẫm đủ các loại sách triết lý mà tư tưởng sâu sắc đến nỗi có khi chính các tác giả cũng không hiểu hết những điều mình rao giảng. Tôi đang hăm hở chuẩn bị cho mình trở thành một lực lượng hoạt động nòng cốt để cải tạo cả thế giới.
Ấy thế mà cô gái giang hồ bất hạnh, bị đánh đập, bị xua đuổi, bị khinh rẻ và bị xô đẩy ra bên lề cuộc sống này đã lấy thân mình sưởi ấm cho tôi, trong khi tôi lại không hề nghĩ tới chuyện lo lắng cho cô, mà nếu như có nghĩ tới thì chưa chắc đã giúp được gì!
Chao ơi, tôi sẵn sàng cho rằng chuyện này chẳng qua chỉ là một giấc mơ. Tuy nhiên, thực tế không cho phép tôi tự lừa dối mình, bởi vì những giọt mưa lạnh tiếp tục nhỏ giọt xuống người tôi, bởi vì bộ ngực cô gái vẫn áp chặt vào tôi, và hơi thở nhẹ nhàng của cô phả vào mặt tôi – tuy có hơi thoảng mùi Vodka – nhưng vẫn làm cho tôi thấy ấm cả người.
Tất cả những cái đó hoàn toàn thật và tôi chua xót nghĩ rằng chẳng có giấc chiêm bao nào nặng nề và tai quái như cái sự thật này. Natasa vẫn tiếp tục thầm thì điều gì không rõ, với cái giọng chứa chan tình cảm và âu yếm mà chỉ phụ nữ mới có được. Những lời lẽ mộc mạc, trìu mến của cô nhen nhúm một ngọn lửa ấm áp và khơi gợi một tình cảm lai láng trong tim tôi.
Thế là nước mắt tôi tuôn như mưa, cuốn trôi đi bao nhiêu nỗi căm hờn, buồn phiền, oán giận vẫn tích tụ trong lòng từ trước đến nay. Natasa dỗ dành tôi:
– Thôi đừng buồn khóc nữa, anh ạ! Chúa sẽ phù hộ anh. Rồi anh sẽ vượt qua những khó khăn, sẽ có chỗ làm mới, sẽ tìm được…
Cứ thế, cô nhẫn nại khuyên nhủ tôi. Rồi cô nồng nhiệt hôn khắp người tôi, những nụ hôn trong trắng, hồn nhiên và không tính toán. Đó là những chiếc hôn đầu tiên của phụ nữ mà tôi nhận được trong đời, cũng là những nụå hôn tốt đẹp nhất. Bởi vì so với lần đó, tất cả những cái hôn về sau này đều đắt giá và hầu như chẳng đem lại gì cho tôi cả. Và chúng tôi ôm nhau nằm đến sáng.
Rạng sáng hôm sau, chúng tôi chui ra khỏi thuyền, cùng đi vào thành phố rồi thân mật chia tay nhau. Để rồi từ đó trở đi tôi chẳng bao giờ gặp lại cô nữa, mặc dù trong suốt sáu tháng trời sau, tôi đã sục sạo tìm cô khắp hang cùng ngõ hẻm.
Natasa, cô bạn đáng yêu! Nếu giờ đây cô đã qua đời – thế là may cho cô – thì cầu xin cho linh hồn cô được cứu rỗi. Nếu cô còn sống, cầu mong cho tâm hồn cô được thanh thản! Tôi ước ao sao những ý nghĩ đen tối đừng thức dậy trong tâm hồn cô nữa, bởi vì đó là nỗi đau khổ vô ích trong cuộc sống, và nó không phù hợp với bản chất thánh thiện của cô

Edition Summer-Ấn Bản Mùa Hạ 2015-Édition Été **Ser. 2 – Vol. 8 / Page 36,37,38 (Thương-mại/Business)**

Summer 2015 - 36  Summer 2015 - 37Forbes: Bill Gates vẫn ‘giàu nhất thế giới’

Lần thứ 16 Bill Gates giữ vị trí người đứng đầu danh sách tỷ phú thế giới hàng năm của tạp chí Forbes.

Nhà sáng lập tập đoàn Microsoft một lần nữa vượt qua tỷ phú Mexico Carlos Slim, trở thành người giàu nhất thế giới.

Tài sản của ông Gates được cho là tăng thêm hơn 3 tỷ đôla trong năm qua, lên con số 79 tỷ.

Theo Forbes, toàn thế giới hiện có con số tỷ phú kỷ lục là 1.826 người, tăng 181 người trong 12 tháng.

Ông Gates chiếm vị trí hàng đầu 16 trong 21 năm qua.

Nhà sáng chế Mỹ Warren Buffett trở lại vị trí thứ ba trong danh sách với tài sản ước tính 72,7 tỷ. Trước đó vị trí này do Amancio Ortega, cha đẻ chuỗi công ty thời trang Tây Ban Nha Zara nắm giữ.

Công nghệ thống lĩnh

Để lọt vào danh sách 20 người giàu nhất thế giới năm nay cần ít nhất 29 tỷ đôla, thấp hơn năm ngoái 2 tỷ.

Các nhà sáng lập và tổng giám đốc các công ty công nghệ Hoa Kỳ tiếp tục thống lính danh sách, chiếm tới sáu vị trí trong số 20 nhân vật hàng đầu.

Người phụ nữ đầu tiên lọt vào danh sách người giàu nhất là Christy Walton, vợ góa của John Walton – một trong những người thừa kế của tập đoàn Wal-Mart.

Bà là người phụ nữ giàu nhất thế giới suốt 5 trong 6 năm qua, theo Forbes.

Ông chủ Facebook Mark Zuckerberg vượt 5 hạng lên thứ 16, với tổng tài sản trị giá 33,4 tỷ đôla. Đây là lần đầu tiên Zuckerberg lọt vào danh sách 20 người giàu nhất.

Tỷ phú trẻ nhất thế giới là Evan Spiegel, 24 tuổi, đồng sáng lập app nhắn tin Snapchat, với 1,5 tỷ đôla.

Silicon Valley có tới 23 tỷ phú mới trong năm nay, trong có đồng sáng lập gia dịch vụ đặt xe Uber, Travis Kalanick và Garrett Camp; cùng nhân viên đầu tiên của họ là Ryan Graves.

Elizabeth Holmes, người sáng lập hãng xét nghiệm máu Theranos, là phụ nữ trẻ đầu tiên tự kiếm được 1 tỷ đôla ở tuổi 31. Tài sản của bà hiện là 4,5 tỷ.

15 trong số 20 người giàu nhất thế giới là người Mỹ.

Trong danh sách các tỷ phú có 290 người mới xuất hiện lần đầu, 71 người là từ Trung Quốc.

46 tỷ phú ở độ tuổi dưới 40.

138 người trong danh sách năm ngoái năm nay đã rớt hạng. Trong số đó có đương kim tổng thống Ukraine, vốn xuất thân là nhà kinh doanh kẹo chocolate, ông Petro Poroshenko.

Người Việt Nam duy nhất trong danh sách tỷ phú thế giới là ông Phạm Nhật Vượng, đứng thứ 1118.

(Bài đọc thêm)

Năm thứ ba ông chủ Vingroup vào danh sách tỷ phú Forbes

Theo ghi nhận của Forbes, ông Phạm Nhật Vượng là tỷ phú USD duy nhất của Việt Nam, với khối tài sản 1,7 tỷ USD…

Tạp chí Forbes vừa công bố xếp hạng thường niên tỷ phú thế giới. Năm nay, ông chủ Vingroup Phạm Nhật Vượng tiếp tục được Forbes công nhận là người giàu nhất Việt Nam, nhưng vị trí của ông trong xếp hạng giảm 26 bậc so với năm 2014.

 Bất chấp sự lao dốc của giá dầu và sự suy yếu của đồng Euro, hàng ngũ những người giàu nhất thế giới đã vượt qua một năm kinh tế nhiều sóng gió và gia tăng giá trị tài sản. Trong xếp hạng thường niên tỷ phú thế giới của Forbes, tạp chí này xác định được có tất cả 1.826 tỷ phú với tổng giá trị tài sản ròng 7,05 nghìn tỷ USD, cao hơn mức 6,4 nghìn tỷ USD của năm ngoái.

Năm qua, thế giới sản sinh được thêm 290 tỷ phú mới, trong đó có 71 người đến từ Trung Quốc. Bên cạnh đó, số tỷ phú dưới 40 tuổi là 46 người, nhiều chưa từng có từ trước đến nay. Tính trung bình, mỗi tỷ phú trong danh sách sở hữu số tài sản 3,86 tỷ USD, giảm 60 triệu USD so với năm 2014.

Tỷ phú công nghệ Mỹ Bill Gates tiếp tục là người giàu nhất hành tinh, danh hiệu mà ông đã nắm giữ trong 16/21 năm qua. Các vị trí tiếp theo trong top 5 của xếp hạng là “đại gia” viễn thông người Mexico Carlos Slim, nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett của Mỹ, tỷ phú ngành thời trang Tây Ban Nha Amancio Ortega, và nhà sáng lập hãng phần mềm Mỹ Oracle Larry Ellison.

Tỷ phú trẻ Mark Zuckerberg, nhà sáng lập mạng xã hội lớn nhất thế giới Facebook, tăng 5 bậc lên vị trí thứ 16, đánh dấu lần đầu tiên anh lọt vào nhóm 20 người giàu nhất thế giới. 

Tỷ phú Jack Ma của “đế chế” thương mại điện tử Trung Quốc nằm trong nhóm những người có tài sản gia tăng mạnh nhất và xuất hiện trong top 50 người giàu nhất.

Danh hiệu tỷ phú trẻ nhất thế giới năm nay thuộc về Evan Spiegel, 24 tuổi, đồng sáng lập ứng dụng chia sẻ ảnh SnapChat. 

Với Thung lũng Silicon nổi tiếng của thế giới công nghệ, tiểu bang California của Mỹ đóng góp tới 23 tỷ phú mới trong danh sách năm nay của Forbes, trong đó có nhà đồng sáng lập ứng dụng taxi kiểu mới Uber Travis Kalanick. Bang này hiện có tới 131 cá nhân sở hữu tài sản 10 con số, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới trừ Trung Quốc và Mỹ.

Tỷ phú mất nhiều tiền nhất năm qua là Aliko Dangote người Nigeria. Giá trị tài sản ròng của “đại gia” xi măng này giảm còn 14,7 tỷ USD từ 25 tỷ USD trong xếp hạng năm ngoái do đồng tiền Nigeria mất giá mạnh và nhu cầu xi măng suy giảm. Tuy vậy, Dangote vẫn là người giàu nhất châu Phi.

“Danh hiệu” nước mất nhiều tỷ phú năm qua thuộc về Nga. Xứ bạch dương hiện có 88 tỷ phú từ mức 111 tỷ phú trong xếp hạng năm ngoái. Hiện số tỷ phú của Nga ít hơn cả Mỹ, Trung Quốc, Đức, và Ấn Độ.

Năm qua cũng chứng kiến 38 người trở thành cựu tỷ phú, bao gồm nhà thiết kế thời trang người Mỹ Michael Kors và cựu Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko. 

Trong xếp hạng tỷ phú năm nay của Forbes, có tới 1.191 tỷ phú tự mình làm ra tài sản, chỉ có 230 người được thừa kế. Có 405 người được thừa kế một phần tài sản, nhưng đã làm việc để gia tăng số tài sản đó.

Theo ghi nhận của Forbes, ông Phạm Nhật Vượng là tỷ phú USD duy nhất của Việt Nam, với khối tài sản 1,7 tỷ USD, tăng so với mức 1,6 tỷ USD của năm ngoái. Năm nay là năm thứ ba liên tiếp ông Vượng có tên trong danh sách này. 

Với mức tài sản trên, ông Phạm Nhật Vượng – nhà sáng lập kiêm Chủ tịch Vingroup – hiện là người giàu thứ 1.118 trên thế giới, so với vị trí 1.092 của năm ngoái. 

Theo Forbes, năm qua, ông Vượng đã thực hiện hàng chục dự án mới, trong đó nổi bật nhất là dự án Vinhomes Central Park trị giá 1,5 tỷ USD bao gồm một tòa nhà 81 tầng dự kiến là tòa nhà cao nhất Việt Nam.

Năm 2013, ông Vượng được Forbes xác định có 1,5 tỷ USD, đứng thứ vị trí 974 trong danh sách tỷ phú thế giới.