‘Cho vừa lòng Anh!’ Camilla yêu cầu LY HÔN thái tử Charles với số tiền khổng lồ để giữ bí mật của Hoàng Gia Anh! | Camilla files for Divorce with Charle his 70th birthday with huge King’s ransom…

‘Lòng người như chiếc lá, trong cơn mưa chiều, nhiều cơn gió cuốn… và cơn đau nầy, vẫn còn đấy !..’
Trời đang vào Thu, mưa Thu man mác nhỏ nghìn dòng lệ, tiếc thương ..

more “‘Cho vừa lòng Anh!’ Camilla yêu cầu LY HÔN thái tử Charles với số tiền khổng lồ để giữ bí mật của Hoàng Gia Anh! | Camilla files for Divorce with Charle his 70th birthday with huge King’s ransom…”

Vẫn chưa phai lòng! 4 triệu lá lành thương nhớ về 90 triệu lá rách..| Những ngày đầu Thu => ‘Tổng Biểu Tình Ottawa-Canada!! 29-09-2018’ Hình-ảnh, Bài-viết & Phim-đoạn.

Ông Bà thường căn dặn, lo cho người sống, quan trọng hơn là cho người chết …
Cho dầu Cộng Sản trong nước hiện đang rần rộ rải tin các vụ tang chế, ma chai, mồ mả, etc… của các đảng-viên của họ từ mấy tháng qua, nhưng… lòng người Việt nơi Hải-ngoại thương yêu đồng bào ở Quốc-nội (đang trăn trở, khổ sở dưới ách Cộng-sản!) không hề xao lãng, vẫn chưa phai lòng câu ca dao:
‘Ngoại’ luôn thương nhớ ‘Nội’ cùng
Tuy rằng khác biển nhung chung một dòng
Một dòng máu Việt thắm nồng
Dẫu …lành hay rách, một lòng chở che !…
VT Magazine/NBN – Bina
Oct, 2018|Montreal – Canada

*****

Hưởng ứng lời kêu gọi của Linh Mục Nguyễn Văn Lý,
để đồng hành cùng với Cộng Đồng Người Việt Tự Do Hải ngoại vào dịp Tổng Biểu Tình Toàn Cầu ngày Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018, và cùng đồng bào khắp Việt Nam:

=> Đập tan luật “Đặc Khu“, luật “An Ninh Mạng” và những mưu đồ bán nước hại dân của đảng cộng sản Việt Nam.
=> Lên án Cộng sản Việt Nam biến đổi Chữ Quốc Ngữ thành tiếng Tàu cộng.
=> Lên tiếng thay cho đồng bào trong nước trước làn sóng trấn áp khốc liệt của cộng sản Việt Nam.

Liên Hội Người Việt Canada cùng các Tôn giáo, Cộng đồng, Hội đoàn đã tổ chức buổi lên tiếng tại tiền đình Quốc Hội Liên Bang Canada và biểu tình, tuần hành trước Tòa Đại sứ Việt cộng tại thủ đô Ottawa ngày 29 tháng 9 năm 2018.

Dưới đây là một số videos & hình ảnh do Đặng Hoàng Sơn ghi lại.
Kính mời quý đồng hương theo dõi.



Đoàn người Việt biểu tình Trước Quốc Hội – Ottawa, Canada.



Bs Lê Thuần Kiên cám ơn đồng hương tham dự biểu tình.

Ông Nguyễn Chí Thành phát biểu.

BIỂU TÌNH TRƯỚC TÒA ĐẠI SỨ VIỆT CỘNG.

Các đoạn phim ngắn ghi lại quang cảnh buổi biểu tình tại tiền đình Quốc Hội Liên Bang Canada và cuộc tuần hành trước Tòa Đại sứ Việt cộng tại thủ đô Ottawa ngày 29/09/2018.  (Nguồn: Đặng Hoàng Sơn Hà)


Xem Thêm:
Trưởng Ban Tổ Chức, Bs Lê Thuần Kiên, phát biểu trước Quốc Hội Liên Bang Canada.
– Đoàn Biểu tình giăng Cờ Vàng VNCH tuần hành trước Tòa Đại Sứ Việt Cộng – Ottawa, Canada.
– Đoàn Người Biểu Tình Cùng Hợp ca Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ – 29-09-2018
– Đoàn Người Biểu Tình Cùng Hợp ca Việt Nam – Việt Nam. Trước TĐS Việt Cộng.
– Bs Lê Thuần Kiên cám ơn các Vị đồng-hương tham dự biểu tình & các nhân viên an ninh vùng Ottawa, etc … 

TBT Ottawa 29-09-2018.jpg

separator

​”Cọp chết để da, Đảng-viên chết, người dân hả dạ!…|Lễ viếng nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười tại Nhà tang lễ quốc gia Hà Nội| Những quang cảnh Mèo khóc Chuột | Mời xem cho vui…

Với bản lãnh & kinh nghiệm Lừa người, Mị dân nặng đầy huân chương trên hai vai, lại một lần nữa, Họ,
… lại rình rang chiêng trống, lại xúng xính áo quần, lại đồng lòng tái diễn những quang-cảnh lã chã ‘Mèo khóc Chuột’ thật nghiêm chỉnh! thật hay! thật tài nghệ !!
Câu điếu văn thật lòng, xin viết cho ngài Nguyên TBThư của Đảng Cộng Sản VN nói riêng, và các đồng Đảng của ông, nói chung, nhé.
“Cọp chết để da| Đảng viên chết, người dân hả dạ!!”
“Cọp chết để da| Ông chết, Đảng ông có.. thật tâm xót xa ? “

 

VT Magazine/ NBN – Bina
06/10/2018 Montreal – Canada

Xem: Trực tiếp Lễ viếng nguyên … more “​”Cọp chết để da, Đảng-viên chết, người dân hả dạ!…|Lễ viếng nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười tại Nhà tang lễ quốc gia Hà Nội| Những quang cảnh Mèo khóc Chuột | Mời xem cho vui…”

Nghĩ gì về Đám Tang của ĐỖ MƯỜI| Vì sao truyền thông XHCN Việt Cộng phải dời ngày ?| Đỗ Mười, tên thật là Nguyễn Duy C…|Đ. Mười là một trong những tổng bí thư ít học nhất của Đảng..!

Hơn tuần qua, hầu như người Việt ở trong & ngoài nước đều được nhắn tin về hai (2) cái chết đồng loạt, đồng thì  của T.Đ.Q. và Đ.M., những Đảng viên gạo cội  của Đảng CSVN.
Nhưng ngày tử thật sự của một vị đã không đưọc giới truyền thông của nhà nước CSVN loan tin đúng lúc… cho đến khi trong quần chúng đã trỗi lên quá nhiều thắc mắc! nghi vấn! mai mỉa! … là ngày hôm nay,
Có lẽ cái chết của một ‘Nguyên’ TBT củ rít đã không nằm trong kế hoạch ‘Phải Chết!’ , ‘Cần Chết!!’, ‘Cần Tuyên Bố Chết!!!’ của Đảng và nhà nước ta.
Là vậy đó ..
Từ đó, có thể cho thấy lại thấm thía hơn, tấm lòng ‘Vắt Chanh Bỏ Vỏ’ & ‘Qua cầu liệng Ván’ của đạo đức CSVN, của Chủ Nghĩa Cộng Sản …
Một nụ cười thoảng trong gió Thu: ‘Năm nay, mùa gặt hái cô hồn, các Đảng viên CS từ trần tập thể, thu hoạch tốt ..!!’

VT Magazine 02-10-2018
NBN/ Canada

*******

XEM: Cựu TBT Đỗ Mười đã từ trần, chục ngày sau mới được Đảng phát tang
more “Nghĩ gì về Đám Tang của ĐỖ MƯỜI| Vì sao truyền thông XHCN Việt Cộng phải dời ngày ?| Đỗ Mười, tên thật là Nguyễn Duy C…|Đ. Mười là một trong những tổng bí thư ít học nhất của Đảng..!”

Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời sáng 21/9.| Trần Đại Quang chết “theo kịch bản”|Vì sao Trần Đại Quang qua đời?|Ai sẽ thay Chủ tịch nước Trần Đại Quang? | Trần Đ. Quang qua đời vì mắc ‘virus hiếm và độc hại?!|Giải đáp Chủ tịch Trần Đại Quang mắc ‘vi-rút’ gì??!

Những ngày qua, giới truyền thông trong nước đã đồng loạt đưa tin: Chủ tịch nước VN Trần Đại Quang qua đời vì mắc ‘virus hiếm và độc hại’!
Tên của căn bệnh nầy đã gây.. hoang mang không ít cho những người lưu tâm. Thật chấn động!!
Đón nhận được tâm trạng của một số độc-giả đang ngẩn ngơ, vỗ trán: ‘Virus hiếm là chi đây? Virus độc hại’ là cái .. quái gì vậy ??!!
Nên, để tạm thời giải tỏa phần nào những trăn trở, băn khoăn tâm trí của một số độc giả, Chúng tôi xin được nêu câu giải đáp:

virus hiếm và độc hại’ (Anh ngữ: “a rare and toxic virus”) Có thể gọi là: Vi-khuẩn ‘Thanh Trừng Nội Bộ’ của Đạo-đức Cộng sản, và rất rất có thể được gọi là nọc độc ‘Vắt Chanh Bỏ Vỏ’ của Vương triều Tập, như thuở xưa, tiên tổ ông ta, Lưu Bang & Việt Câu Tiển đã mỉm cười, áp dụng…
VT Magazine/NBN
RDP |23-09-2018

——————

Chủ tịch nước VN Trần Đại Quang qua đời vì mắc ‘virus hiếm và độc hại’ | VOA-21-09-2018

Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời ngày 21/9/2018 ở tuổi 62.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời ngày 21/9/2018 ở tuổi 62.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang, một trong ba lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam, vừa qua đời ở tuổi 62 vì mắc “virus hiếm và độc hại”, truyền thông nhà nước dẫn lời người chuyên trách về sức khỏe của cán bộ Trung ương cho biết hôm 21/9.

“Các giáo sư, …  more “Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời sáng 21/9.| Trần Đại Quang chết “theo kịch bản”|Vì sao Trần Đại Quang qua đời?|Ai sẽ thay Chủ tịch nước Trần Đại Quang? | Trần Đ. Quang qua đời vì mắc ‘virus hiếm và độc hại?!|Giải đáp Chủ tịch Trần Đại Quang mắc ‘vi-rút’ gì??!”

Mẹ Têrêsa – Song Thao |Lời Giới Thiệu & Bài Viết “..tôi mới biết Tháng Tư, 1994, Mẹ Teresa có tới Việt Nam… Mẹ đã đặt chân tới đất nước chúng ta…” |Hình ảnh hiếm quí – Rare Pictures of Mother of Teresa …

 Lời giới thiệu ….

     Có lẽ Mẹ Teresa đã thực hành hầu như đầy đủ những ý Chúa muốn. Đức kiêm ái của Mẹ đã chói ngời khắp nơi trên thế giới. Giải Nobel của người đời ban tặng cho Mẹ chẳng là gì so với phần thưởng của Chúa dành cho Mẹ nơi nước Trời. Có chuyện không ngờ là dù già yếu Mẹ đã lặn lội sang VN đến 5 lần. Những lần đi này Mẹ đã tìm gặp các nhà lãnh đạo CSVN ngỏ ý  muốn lập cộng đoàn của Mẹ , dòng Thừa Sai Bác Ái tại VN  để cứu giúp những trẻ mồ côi và người cùng khổ. Thật cảm phục đức tính kiên nhẫn, lòng nhân ái của Mẹ. Nhưng phải đợi gần 10 năm sau khi Mẹ qua đời thì ý nguyện của Mẹ mới thành sự thật. Cuối cùng ngọn đèn cũng đã được thắp sáng lên cho một quê hương VN còn đang tăm tối.

NguyễnH.Nghiêm

*******

Mẹ Teresa

Song Thao

Mẹ Têrêsa, cái tên quen thuộc với nhiều người khốn khổ trên khắp thế giới.
(Hình: Getty Images)

Tôi nghĩ người được nhiều người gọi là mẹ nhất trên thế giới khi còn tại thế phải là mẹ Têrêsa (Mother Teresa). more “Mẹ Têrêsa – Song Thao |Lời Giới Thiệu & Bài Viết “..tôi mới biết Tháng Tư, 1994, Mẹ Teresa có tới Việt Nam… Mẹ đã đặt chân tới đất nước chúng ta…” |Hình ảnh hiếm quí – Rare Pictures of Mother of Teresa …”

Happy Lunar New Year * 2018 * Lời Chúc Mừng Năm Mới đến mọi người !!!

– May Health, Peace, Love and Prosperity be with You & Yours in this coming New Year !!
– Que la Santé, la Paix, l’Amour et la Prospérité soient avec Vous et avec vos Proches dans cette Nouvelle Année Lunaire à venir .
… 

Chuc Mung  Nam Moi 2018 Res..jpg
Sáng ngày đầu năm … 
nh Chúc mọi người

Nụ Cười luôn thắm
Lòng ấm Tình thân
Không còn phân vân
 Nỗi buồn năm cũ …

Các Anh, các Chú
Dư đủ Tình-yêu,
  Cô, Chị diễm-kiều.
 Vạn Điều Như Ý … 

more “Happy Lunar New Year * 2018 * Lời Chúc Mừng Năm Mới đến mọi người !!!”

Lần theo nỗi chết …và lời giới thiệu – (những bài viết cho dịp tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30-04)

[Những  bài viết cho dịp  tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30-04]

… “Năm năm cứ đến ngày oan trái, đốt nén hương lòng để nhớ thương“. Nhớ thương về một miền Nam tự do vì các thế lực chính trị mà phải bị bức tử. Xót thương về những người lính chiến đã nằm xuống  trong đó có cái chết thật hào hùng của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, một thời được xưng tụng là một trong ngũ hổ miền Tây.  Vào ngày định mệnh 30 tháng Tư của 42 năm trước đây, dù TT 3 ngày Dương văn Minh đã ra lệnh buông súng, ông khi đó là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Chương Thiện vẫn tiếp tục chiến đấu chống lại lực lượng quân Bắc Việt vào tiếp quản cho đến viên đạn cuối cùng. Căm giận vì tính gan lỳ của ông, CS đã xử bắn ông tại vận động trường Cần Thơ vào ngày 14 tháng 8 năm 1975.

  Bài viết dưới đây tác giả kể về một lần suýt chết khi chiếc trực thăng chỉ huy của Đại Tá Cẩn bị bắn rơi trong khi đang chỉ huy trận đánh. Qua câu chuyện chúng ta biết rõ thêm về cái  tính can trường của ông cũng như  tình huynh đệ chi binh giữa những người lính chiến.
Nghiêm Nguyễn (San Jose)
*******
Lần theo nỗi chết 

Image result for Lần theo nỗi chết

Hoài-Ziang-Duy

Tôi thấy lại ngày cũ một thời tuổi nhỏ tôi. Tôi thấy lại đời sống của mấy chục năm xa vắng, một thuở yêu đương, một thời chinh chiến với khổ đau bất hạnh ở 117 truyện ngắn của ngần ấy tác giả trong bộ sưu tập 3 cuốn Văn miền Nam trước năm 75. Quá khứ gần lại từ những trang sách là một …

more “Lần theo nỗi chết …và lời giới thiệu – (những bài viết cho dịp tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30-04)”

Lời Chúc Đầu Năm Đinh Dậu… nbn / thân ái – Lời Chúc Đầu Năm Đinh Dậu… nbn / thân ái,

  • May this lovely lunar New Year of Rooster bring Happiness, Peace, Health, Success and Love … to You and to your Beloved …
  • Que ce Nouvel An lunaire du Coq apporte le Bonheur, la Paix, la Santé, le Succès … et l’Amour à Vous et à tous Vos bien-aimés …

Những gì tưởng như thắm thiết …,  không gần gũi, rồi cũng nhạt phai …
Những gì ngỡ như khắc ghi …, không nghĩ đến, rồi cũng… phôi pha …

Những gì nghĩ rằng sẽ không thể nào quên …, với thời gian, rồi cũng không còn nhớ …

Xin,
Cám ơn thời-gian…  Xin Cảm tạ năm mới…
Xin đón chào những ngày tháng sắp đến …

Mồng một Tết Đinh-Dậu
(28 Jan 2017 Dương-lịch )
Ngọc Bích Ngân, Montréal/ RDP.

Tâm Tình mùa Giáng Sinh – Ngọc Bích Ngân

Lạnh quá …

    Ở xứ lạnh, mỗi khi mùa Đông đến, là lại bao nhiêu việc phải lo toan… y-phục, nhà cửa, xe cộ đường xá, vấn đề giao thông, cực nhọc vô cùng! Nhưng, thật kỳ diệu …
dầu phải vật vã với hơi lạnh, dầu phải tất bật với tuyết sương, nhưng ai ai cũng đều nghe vui khi thấy lá thu rơi báo hiệu lập đông, người người đều nghe lòng rộn rã khi thấy tuyết lất phất bay, tô điểm cho ngày đông …

more “Tâm Tình mùa Giáng Sinh – Ngọc Bích Ngân”

Cái Muỗng – Tác Giả: Văn Quang ( Short Story About A Soldier & The Prison: Sơn La, in VietNam)

Cái Muỗng

 Những ngày đàu Xuân tôi đọc được một bài của Văn Quang.
Bài viết làm tôi xúc động, tôi mời quí vị chia xẻ với tôi niềm xúc động này.
Hoàng Hải Thủy

I. Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La thì “trại” được more “Cái Muỗng – Tác Giả: Văn Quang ( Short Story About A Soldier & The Prison: Sơn La, in VietNam)”

NGƯỜI BÁN SÁCH TRÊN BÃI BIỂN NHA-TRANG –

Bài vừa nhận được từ một thân-hữu
Chân thành cám ơn tác-giả Phạm Tín An Ninh & anh NHNghiêm, người đã chuyển bài đến VT Magazine.

VT Magazine
06-Oct-2015.

_________________________________________________________________________________________

Tôi trở về thăm quê hương sau hơn mười lăm năm, kể từ ngày vượt biển ra đi. Tôi quyết định điều này qua bao nhiêu đêm ưu tư trằn trọc. Tôi chẳng còn ai thân quen bên ấy để về thăm.
Mẹ tôi mất hồi tôi mới lên năm. Cha tôi chết cuối năm 1977 trong trại tù cải tạo Đá Bàn, khi tôi đang ở một trại tù khác tận núi rừng Việt Bắc và mãi năm năm sau tôi mới nhận được tin buồn.
Đứa em gái mà tôi thương quí nhất, mang hình ảnh của người mẹ mà tôi chỉ còn mơ hồ trong ký ức, cũng đã kết liễu cuộc đời ở cái tuổi tưởng chừng lúc nào cũng có cả một bầu trời xanh bao la trước mặt.
Còn bạn bè tôi, thằng chết, đứa ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời. Biết là lần trở về này, rồi cũng chẳng khác gì cái ngày cách đây mười sáu năm, từ một trại tù miền Bắc trở về, tôi bơ vơ lạc lõng trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình.
Tôi cũng không có ý định về đây để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa. Những “hang động tuổi thơ”chắc cũng đã biến mất trước bao nhiêu giông tố năm nào bất ngờ ụp xuống.
Bây giờ chỉ còn sót lại chút ít trong lòng những người tha phương lưu lạc. Bản thân tôi có quá nhiều đớn đau và mất mát ngay trên chính cái thành phố một thời xinh đẹp này.
Tôi sợ phải nhìn lại cái quá khứ hãi hùng và tang thương đó. Tôi về chỉ để làm một điều, mà nếu không làm được, lòng tôi sẽ ray rứt khôn nguôi.
Có lẽ đến khi chết tôi vẫn không làm sao nhắm mắt.
Tôi về để tìm lại phần mộ của cha và em tôi, cải táng đem về an táng bên cạnh phần mộ của mẹ tôi trong nghĩa trang gia tộc ở quê tôi ngoài Vạn Giã.

Điều ước mơ của cha tôi, mỗi lần ông kể cho tôi nghe về mẹ tôi và chuyện tình khá lãng mạn nhưng cũng nhiều cay đắng của ông bà. Cha tôi được chôn cất sơ sài trên núi Đá Bàn, bên ngoài một trại tù cải tạo lúc xưa.
Còn em gái tôi, được gia đình một cô bạn thân chôn cất tại một nghĩa trang ngoài Đồng Đế. Khó khăn và may mắn lắm tôi mới tìm được tin tức về mộ phần của cha và em tôi sau hơn hai mươi năm. Nhờ một người bạn cùng tù với cha tôi, chính tay ông đã đào huyệt cho cha tôi; và gia đình cô bạn thân của em gái tôi, vượt biên từ năm 1978, hiện định cư tận bên Hòa Lan, cung cấp chi tiết và vẻ cả bản đồ hướng dẫn cho tôi.
Ngồi trên máy bay, tôi lo lắng đủ điều. Mộ em tôi nằm trong một nghĩa trang, dù chưa được xây, nhưng có tấm bia đúc bằng xi-măng nên có lẽ dễ tìm; nhưng phần mộï của cha tôi, nằm trong núi và cái trại cải tạo ngày xưa bây giờ đã biến thành một khu kinh tế mới. Gần ba mươi năm rồi, có biết bao sự đổi thay.
Cuối cùng thì tâm nguyện của tôi cũng hoàn thành được một nửa. Trái ngược với những lo lắng ban đầu, tôi dễ dàng tìm ra phần mộ của cha tôi. Mặc dù bối cảnh chung quanh thay đổi, nhưng bà con ở vùng kinh tế mới này đa số là dân thành phố bị cưởng bách “tự nguyện” lên đây, một số ngày xưa là lính và công chức. Biết đây là mộ của những người tù cải tạo, nên họ thương mà rào lại và giữ gìn. Những dịp cuối năm họ đều thắp hương, tảo mộ và kẻ lại tên trên những tấm bia bằng gỗ, dù đã rong rêu qua bao nhiêu mùa mưa nắng. Riêng phần mộ của em tôi, mò mẫm suốt cả hai tuần tôi vẫn tìm không ra. Cả khu nghĩa trang bây giờ thay đổi. Người chết nhiều quá. Nhiều ngôi mộ mới xây, nhưng cũng có một số đã được cải táng, dời đi nơi khác. Nhà cửa cất san sát bên nghĩa địa. Người sống bây giờ ở chung với người chết. Tôi bắt chướt người xưa khấn vái, xin hồn thiêng em tôi về chỉ cho tôi ngôi mộ của em nằm. Nhưng lời vái của tôi vẫn không thiêng.
Tôi thuê người cải táng phần mộ của cha tôi. Đi từng nhà trong khu kinh tế mới cám ơn lòng tốt của mọi người. Đưa hài cốt của cha tôi về an táng bên cạnh mẹ tôi, trong nghĩa trang gia tộc, thuê thợ xây lại tất cả những ngôi mộ đã bao nhiêu năm không có ai chăm sóc.
Còn một ngày nữa là hết hạn visa. Tôi muốn đi một vòng, tìm lại chút gì của Nha-Trang xưa. Mùa hè Nha-Trang bây giờ dường như nóng bức hơn ngày xưa. Tôi thuê một chiếc xích lô chạy dọc theo con đường Duy-Tân cũ. Vừa để cho mát, vừa muốn tìm lại những lùm cây dương ngày trước, thuở chúng tôi và bạn bè hẹn hò sau những lúc tan trường. Một số lùm dương vẫn còn đó, nhưng trơ trọi, điêu tàn.
Tôi bảo anh phu xe cho tôi xuống trường Võ-Tánh. Anh phu xe còn trẻ, thắng xe lại, ngạc nhiên. Tôi hiểu, nên tôi bảo tôi sẽ chỉ đường, anh cứ theo tôi. Ngôi trường cũ, nơi tôi có biết bao kỷ niệm của ba năm theo học, bây giờ không những cái tên trường, mà tất cả đều trở thành xa lạ. Những hàng cây phía trước không còn. Ngôi trường đứng chơ vơ, chẳng còn sót lại chút gì thơ mộng, gây trong tôi một cảm xúc bẽ bàng hơn là thương tiếc.
Bất giác tôi nhớ đến em tôi. Đứa em gái xinh đẹp dễ thương, đã cho tôi cái ấm áp của cả một gia đình, trong những ngày chúng tôi lớn lên không có mẹ. Em học bên trường Nữ Trung Học, nhưng thường đến đây chờ tôi để hai anh em cùng ra biển. Em tôi thích tắm biển, nhưng ngại đến đó một mình nên thường rũ tôi đi theo hộ tống. Tôi tha hồ làm tình làm tội mấy anh chàng muốn đến làm quen, tán tỉnh em tôi. Tôi đi bộ dọc theo bãi biển, tìm đến khu có nhiều cây dừa trước trường Bá-Ninh lúc trước, nơi ngày xưa em tôi thường ngồi ở đó.
Tôi đưa mắt nhìn một vòng từ xa. Nơi bậc xi măng tiếp giáp bãi cát, một người tàn tật đang khó nhọc dùng cánh tay duy nhất còn lại giữ thăng bằng trườn xuống.
Trông anh ta giống như một con cóc. Len lỏi trong đám người đi tắm, anh hướng về phía tôi ngồi. Lưng anh mang túi vải chứa đầy sách, và kéo lê trên cát một cái túi vải nữa, cũng toàn là sách. Anh lê lết từng quãng, từng quãng ngắn.
Bất ngờ anh ta ngước lên. Thấy tôi gật đầu chào, anh ta nhìn tôi cười rạng rỡ, để lộ hàm răng trắng. Khuôn mặt tuấn tú, râu quai hàm, vầng trán cao với mấy sợi tóc vắt ngang rất nghệ sĩ. Anh dùng bàn tay duy nhất lôi một cuốn sách trong túi vải đang nằm trên mặt cát và từ từ mở ra.
Tôi liếc qua. Cuốn sách có cái tựa viết bằng tiếng Anh, nói về chuyện chuyến tàu Titanic. Tôi nhớ đến cuốn phim cùng tên, mới quảng cáo rầm rộ trên truyền hình Nauy mà tôi chưa kịp đi xem.
Bỗng tôi tròn mắt ngạc nhiên khi nghe anh mở lời chào và giới thiệu cuốn sách bằng tiếng Anh mà anh phát âm rất lưu loát, không thua kém gì những người Việt đã sinh sống lâu năm ở nước ngoài.
Anh lầm tưởng tôi là người Nhật hay Đại Hàn gì đó. Tôi thán phục anh vô cùng và bảo với anh tôi là người Việt, định cư ở Nauy, nên trình độ tiếng Anh của tôi chỉ vừa đủ nói dăm ba câu xã giao, chứ làm gì có thể thưởng thức được văn chương.
Tôi cám ơn anh và móc ví ra định biếu anh một chút tiền, nhưng anh vội đưa tay ngăn lại
– Cám ơn anh, nhưng xin anh để dành tiền cho những người còn nghèo khổ hơn tôi.

Anh nhỏ nhẹ bằng một giọng thân thiện và lễ độ.
Câu nói và thái độ của anh làm tôi rất đỗi ngạc nhiên. Vì từ khi trình giấy thông hành vào nước, trước những người mang lon, đội mão đại diện cho cả môt quốc gia mà cũng không có được phong thái thanh tao như anh; và chẳng lẽ ở trong cái thành phố ”mũi nhọn du lịch” này lại còn nhiều người khốn khổ hơn anh ?
Tôi đành mua một cuốn sách để anh vui lòng nhận tiền, nhưng rồi thấy anh cứ loay hoay moi hết túi nọ đến túi kia, để tìm đủ tiền thối lại cho tôi.
Tôi muốn hỏi thăm anh vài câu, nhưng anh đã nhoẻn miệng cười và gật đầu chào tôi rồi vội vàng lết sang mấy người khách nước ngoài đang nằm phơi nắng trên hàng ghế phía trước.
Từ hôm ấy, hình ảnh người tàn tật bán sách trên bãi biển Nha-Trang cứ lẩn quẩn trong đầu và theo tôi về tới Nauy; để rồi nếu có ai đó lỡ lời nói điều gì không mấy tốt về những người nghèo khổ ở Việt nam, tôi có cảm tưởng như đang xúc phạm đến anh, người bán sách khả kính mà tôi bất ngờ được gặp.
Năm sau, tôi lấy một tháng hè về lại Việt nam. Lần này tôi mua vé và nhờ cha cô bạn của em tôi, từ Hòa Lan, cùng về với tôi. Ông là người đã giúp chôn cất em tôi ngày trước.
Tôi không ngờ là mình phải về lại Việt nam lần thứ hai. Một điều mà trước đây tôi không hề nghĩ tới.. Nhưng tôi phải làm tròn bổn phận của người anh với cô em gái, mà nếu trước kia tôi lo lắng cho nó chu đáo hơn, biết đâu bây giờ nó còn sống để cho tôi khỏi cảnh côi cút một mình.
Sau một chuyến bay dài, tôi mệt đừ người. Tôi trở về từ vùng Bắc Âu lạnh lẽo, bây giờ lại gặp cái nắng oi nồng của vùng nhiệt đới. Sau khi thuê khách sạn xong, tôi chạy ngay ra biển tắm.
Nằm dài trên bãi cát, tôi bỗng nhớ tới người bán sách năm xưa. Tôi thả bộ theo bờ biển về hướng mấy cái lều có bóng dáng nhiều người ngoại quốc đang từ khách sạn kéo ra, bỗng mắt tôi sáng lên khi nhìn thấy người tàn tật đang lê lết theo sau.
Cũng hai cái túi vải đựng sách. Đúng là anh tàn tật bán sách năm trước chứ còn ai. Tôi mừng thầm như sắp sửa được gặp lại con người mà bấy lâu nay tôi thường nghĩ tới với lòng mến mộ.
Tôi suy nghĩ làm cách nào để anh ta vui lòng nhận sự giúp đỡ của mình. Nhưng người tàn tật lúc nào cũng bám sát vào những người nước ngoài. Tôi để ý thấy người ta cũng không mua sách và chỉ cho anh tiền.
Tôi ngạc nhiên khi thấy anh ta cười, hớn hở nhận tiền rất điệu nghệ, không nghe anh nói cái câu thật tử tế mà một năm trước anh đã lễ phép nói vơi tôi “Cám ơn anh, nhưng xin anh để dành cho những người còn nghèo khổ hơn tôi”.
Một cái gì đó thật đẹp vừa bị sụp đổ trong lòng. Tôi cảm thấy người nóng hừng hực. Không biết là sức nóng giữa ban trưa hay vì máu nóng bốc lên đầu. Tôi cắm đầu chạy lao vào những đợt sóng cuồng nộ đang từ ngoài khơi đổ vào bờ.
Nước biển trong xanh, sóng biển như những cánh tay ôm tôi vào lòng vuốt ve, dỗ dành. Mặt nước mênh mông, trãi rộng đến những dãy núi mờ xanh tận cuối chân trời. Tôi nghe văng vẳng trong không gian như có ai đang dạo đàn bản Nha Trang Ngày Về.
Thiên nhiên phần nào giúp tâm hồn con người rộng mở và dễ cảm thông hơn.
Sau một hồi quần với sóng biển, tôi cũng tạm quên người tàn tật bán sách đã làm tôi hụt hẫng.
Nhưng khi vừa bước lên bờ cát thì tôi lại trông thấy anh ta đang o bế mấy người nước ngoài và đưa tay xin cả thức ăn thừa.
Tôi nghi ngờ, có thể là người tàn tật này không phải là người tàn tật năm xưa. Tôi đến gần hỏi thăm. Nhưng chưa hỏi hết câu hắn đã “Đ.m. cái khứa đói rã họng ra mà còn làm cao ấy hả. Chết mẹ nó rồi..”
Chỉ nghe cái giọng lỗ mãng của hắn, tôi đủ biết chắc hắn ta không phải là anh – người tàn tật bán sách mà năm trước tôi đã gặp -. Tôi theo người bán sách này với ý định hỏi thăm thêm về anh cho ra lẽ,
nhưng thấy hắn ta chẳng mấy tha thiết. Hắn di chuyển chậm, nhưng mắt hắn lại quan sát thật nhanh về những đám người đang xuống bãi ở quãng xa. Và khi đi ngang qua chỗ ngồi của người đàn bà bán cua luột, hắn hất hàm bảo: ” Đó, vợ khứa đó ! ”
Tôi liền chụp ngay cơ hội, hy vọng tìm ra manh mối. Nhưng khi tôi lân la lại gần, thấy chị bán cua luột này có vẻ nghiêm trang khác với những người bán hàng rong bình thường, tôi không biết phải bắt đầu làm sao. Tôi mua hết con cua này tới con cua khác mà chẳng ăn con nào.
Và cứ mỗi lần chị định quảy gánh đi chỗ khác, tôi gọi giật lại mua thêm một con nữa để giữ chân chị. Vừa lúc chị nhận ra người khách mua cua này cũng có gì khác thường, tôi buột miệng :
“Chị là vợ của người tàn tật bán sách trên bãi biển này mấy năm trước ?”. Chị ngớ người ra, im lặng nhìn tôi. Có lẽ thấy tôi là một người xa lạ sao lại tò mò vào một chuyện riêng tư.
Tôi kể cho chị nghe cái cảm tình đặc biệt mà tôi đã dành cho anh ấy. Tôi muốn tìm cách giúp anh một phần nào nỗi thống khổ tật nguyền. Tôi tha thiết muốn biết về anh. Dường như những lời chân thật của tôi làm cho chị xúc động. Chị nhìn tôi, đôi mắt thật buồn:
– Em không phải là vợ của anh ấy. Tụi em cùng cảnh khổ nên đùm bọc lấy nhau mà sống. Một số người đùa, gán ghép tụi em rồi quen gọi thế thôi, anh ạ. Anh ấy đã chết cách nay hơn tám tháng. Em đã lo chôn cất anh ấy.
Lòng tôi thắt lại, một phần vì cảm thương anh trong cảnh khốn cùng, một phần ân hận là giá năm trước mình tìm cách giúp đỡ anh, biết đâu đã cứu được anh. Tôi có ý muốn nhờ chị đưa tôi ra mộ để thắp cho anh nén hương. Chị ngại ngùng nhưng cuối cùng gật đầu hẹn bốn giờ chiều chờ tôi trước khách sạn tôi ở.
Tôi thuê chiếc taxi, và xin phép cùng ngồi với chị ở băng ghế sau để dễ dàng trò chuyện. Trên đường ra nghĩa trang, chị say sưa tâm tình cùng tôi, như từ lâu lắm chị không có dịp nói ra những điều bao năm dấu kín trong lòng.
Chị tên Trang. Cha chị trước kia là một trung sĩ địa phương quân, bị thương năm 1968, trong trận tết Mậu Thân, nên được giải ngũ. Mẹ chị mất từ khi chị còn bé lắm. Cha chị không chịu tục huyền mà ở vậy nuôi đứa con độc nhất của mình.
Nhờ số tiền trợ cấp ban đầu, ông mua được một căn nhà tôn trong khu dành cho thương phế binh, nằm phía sau ga xe lửa. Ông xin được cái chân bán vé cho hãng xe đò Phi Long ở bến xe Xóm Mới. Lương ba cọc ba đồng cộng với tiền hưu bỗng hàng tháng, ông dành dụm cố lo lắng cho cô con gái học hành. Năm 1974, xong lớp 12, chị thi đậu vào trường sư phạm.
Sau ngày Nha-Trang “giải phóng”, chị bị loại ra bởi lý lịch “ngụy quân” của cha. Lúc này, gia đình trở nên bi đát. Cha chị, tất nhiên, không còn được lãnh tiền hưu bỗng ngày trước, chị không tìm ra bất cứ việc gì làm. Cuối cùng cha chị đành phải bán một nửa căn nhà vốn đã chật chội để mua một chiếc xích lô làm phương tiện sinh nhai. Còn chị thì đi bán hàng rong từ dạo ấy.
– Đến bây giờ ông cụ vẫn còn đạp xích lô ? Tôi tò mò hỏi.
– Ông mất lâu rồi anh ạ. Tội nghiệp, ông thương anh Bá lắm, xem anh ấy như con.
Tôi ngạc nhiên :
– Anh Bá nào ?
– Người tàn tật bán sách đó.
Đến bây giờ tôi mới biết tên của anh.
Chị cho biết anh Bá ngày xưa là trung úy phi công. Máy bay của anh bị bắn rơi vào những ngày Sài gòn nguy khốn, khi yểm trơ cho mặt trận Long Khánh của Sư Đoàn Tướng Le Minh Đảo.
Anh được anh em bộ binh tiếp cứu, nhưng anh bị thương rất nặng, phải đưa về tổng y viện Cộng Hòa. Sau cuộc giải phẫu khá dài, anh tỉnh lại. Nhưng khi biết được mình bị mất hai chân và một cánh tay, anh ngất xỉu và hôn mê suốt cả một tuần.
Ngay sau khi Sài gòn vừa “giải phóng”, anh bị đuổi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa khi vết thương chưa lành. Gần hai tháng sau cha em gặp anh ấy trên bến xe Xóm Mới. Biết được phần nào hoàn cảnh thương tâm, cha em lấy xích lô chở anh về nhà chăm sóc vết thương và anh sống với cha con em từ dạo ấy.
– Anh ấy không có thân nhân. Tôi hỏi
– Anh có một cô em gái ở đây, nhưng mà chết lâu rồi. Ban đầu không nghe anh nói điều này. Mãi sau này thấy trên đầu giường của anh có thờ tấm ảnh của một cô con gái và có nhiều đêm rất khuya anh ngồi bất động trước tấm ảnh, cha em hỏi mấy lần, anh mới bảo đó là cô em gái duy nhất của anh.
– Anh không còn bạn bè ?
– Nghe nói anh đang học một khóa phi hành ở đâu bên Mỹ, rồi nhờ có trình độ anh ngữ khá, anh được lưu lại Mỹ làm sĩ quan liên lạc không quân. Nghe tin miền Nam nguy khốn, anh tình nguyện xin về chiến đấu. Vừa về nước, anh ra chiến trường ngay và bị nạn khi đang bay phi vụ thứ hai. Có lẽ vì vậy mà không nghe anh nhắc tới bạn bè.
Xe dừng lại, tôi bước xuống trả tiền và bảo anh tài xế chờ tôi hoặc có thể quay lại sau 30 phút. Tôi bước vào nghĩa trang khi lòng còn vương vấn một câu chuyện buồn. Tiếng chuông nhà thờ từ đâu vọng lại càng làm cho lòng tôi chùn xuống. Đi quanh co một lúc, chị Trang bảo tôi dừng lại và chỉ cho tôi ngôi mộ của anh Bá, nằm bên cạnh ngôi mộ của cô em gái. Cả hai ngôi mộ được xây bằng đá đơn giản, trên tấm bia có cả tấm ảnh.
Tôi ngạc nhiên khi thấy trên mộ bia anh Bá có hình một thập tự giá, vì đây là nghĩa trang Phật giáo. Tôi đến trước mộ anh, thắp ba nén hương thâàm khấn vái cho anh được sống an bình trong một thế giới chẳng còn thù hận, và nói lên lòng cảm mến của một người đồng đội cũ.
Tôi nhìn kỹ tấm ảnh của anh trên mộ bia, tấm ảnh chụp lúc anh còn là sinh viên sĩ quan không quân, phong độ, hào hùng. Trông khuôn mặt quen quen. Có lẽ do bộ quân phục làm tôi nhớ tới khuôn mặt của những bạn bè ngày trước.
Tôi bước sang mộ cô em gái, thắp ba nén hương cho một người không hề quen biết. Tôi tò mò bước lên xem tấm ảnh trên mộ bia. Bỗng đầu óc tôi choáng váng, mắt tôi mờ đi như chẳng còn trông thấy những gì trước mặt.
Trời ơi, có điều gì lầm lẫn hay không ?
Người trong tấm ảnh chính là An Bình, cô em gái yêu dấu của tôi.
Tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh, mở đôi mắt thật to để nhìn kỷ lại tấm ảnh. Không thể lầm lẫn được. Chính tấm ảnh của em tôi mà tôi vẫn treo trên bàn thờ cùng với ảnh của cha và mẹ của tôi. Tôi vẫn thường đứng hằng giờ trước những tấm ảnh này mỗi khi thấy mình quá đỗi cô đơn trên xứ lạ quê người. Làm sao tôi có thể nhầm lẫn được. Bỗng dưng tôi khóc sụt sùi.
Trang nhìn tôi ngạc nhiên :
– Anh có quen biết em gái anh Bá ?
Tôi im lặng không trả lời, bảo chị cùng đi với tôi. Chiếc taxi vẫn còn đợi tôi tự nãy giờ.
Tôi móc bóp tìm địa chỉ của cha cô bạn thân của em tôi, đã từ Hòa Lan về đây trước tôi hai ngày, và chúng tôi hẹn gặp nhau ngày mai.
Bác trọ ở nhà một người em trong khu cầu Xóm Bóng. Tôi đưa địa chỉ cho anh tài xế. Chỉ hơn năm phút sau là anh ta đã tìm được.
May mắn là bác có ở nhà. Tôi xin lỗi bác là đã đến tìm bác sớm hơn ngày hẹn. Báo cho bác là tôi đã bất ngờ tìm được mộ của em tôi.
Xin bác cùng đi với tôi ra nghĩa trang để xác nhận lại vị trí ngôi mộ của em tôi mà ngày trước bác đã có lòng chôn cất hộ.
Trở lại nghĩa trang, tôi đề nghị bác dẫn đường, như muốn để xác minh chắc chắn là bác biết rõ ngôi mộ ấy.
Bác mò mẫm gần 30 phút mới tìm được ngôi mộ của em tôi. Bác ngạc nhiên là ngày ấy bác chỉ kịp dựng một tấm bia, chứ không có xây mộ đá như bây giờ, và trên bia cũng chỉ có tên chứ không có hình ảnh của em tôi.
Tự nãy giờ Trang vẫn còn ngạc nhiên, không biết rõ việc gì. Tại sao cô gái này là em gái duy nhất của anh Bá mà cùng là em gái của tôi ? Tôi xin lỗi vì xúc động quá, tôi sẽ kể cho Trang nghe trên đuòng về nhà.
Tôi đưa cha cô bạn của em tôi về lại nhà trọ, cám ơn bác và hẹn gặp lại bác vài hôm sau. Trên đường về, tôi kể lại cho Trang nghe về hoàn cảnh của gia đình tôi. Tôi đi lính xa nhà, mỗi năm chỉ về phép một đôi lần.
An Bình, đứa em gái duy nhất của tôi ở Nha-Trang với cha tôi. Ông là một thầy giáo, ngày xưa dạy ở trường Pháp-Việt lúc tôi mới lên ba.
Sau ngày về hưu ông được bà con mời làm chủ tịch hội đồng xã. Ông bị bắt vào trại cải tạo Đá Bàn sau ngày Nha-Trang ”giải phóng”, rồi vì tuổi già sức yếu, không chịu nổi sự tra tấn, ông đã chết gần một năm sau đó.
Em gái tôi nối nghiệp cha, sau khi tốt nghiệp ở trường sư phạm Qui Nhơn, vì hoàn cảnh gia đình, được về dạy ở Nha trang. Có lần tôi về phép, em kể cho tôi nghe về mối tình của em với một chàng sinh viên sĩ quan không quân.
Em có đưa cả tấm ảnh cho tôi xem và hẹn sẽ giới thiệu với tôi khi chàng ta ở Mỹ trở về.
Em lo lắng vì anh là người Bắc di cư, công giáo, không hiểu có khó khăn gì cho cuộc hôn nhân. Tôi bảo nó yên tâm, ba tôi theo tây học, nên ông quan niệm về tôn giáo rộng rãi lắm.
Sau khi cha tôi vào trại cải tạo, căn nhà của chúng tôi bị chính quyền mới tịch thu để làm hợp tác xã mua bán. Em tôi không được tiếp tục dạy học nữa nên ra Xóm Bóng ở chung với cô bạn học nối khố tự ngày xưa, chắt chiu số tiền còn dành dụm được để thăm nuôi cha tôi.
Ngay sau ngày Sài-gòn mất, em có vào tìm thăm tôi và người yêu của cô. Hơn hai tuần đi thăm hỏi khắp nơi, em tôi về nằm khóc cả mấy ngày liền, nói với tôi là người yêu của nó đã chết mất xác ở chiến trường Long-Khánh.
Tôi an ủi em tôi, bảo nó về Nha-Trang cố gắng thay tôi lo lắng cho cha, chờ ngày cha và tôi trở về sum họp. Tôi vào tù hơn sáu tháng, hai lần được phép gởi thư về nhà, vẫn không thấy em gái hồi âm. Cho mãi trước khi được chuyển ra Bắc, tôi mới nhận được thư của cô bạn thân của nó, báo tin là nó không kiếm được việc gì làm, túng quẫn, buồn chán, nên đã uống nguyên một ống thuốc ngủ. Gia đình cô chở vào bệnh viện, nhưng không cứu được, vì không tìm ra thuốc giải.
Chị Trang suy nghĩ miên man và như chợt nhớ ra được điều gì. Chị bảo khi còn sống, anh Bá không đi làm vào ngày chủ nhật. Anh đi lễ nhà thờ rồi ra mộ suốt cả ngày.
Chính anh đã dành dùm tiền bạc thuê người xây lại ngôi mộ và mua phần đất dành cho mình. Khi chôn cất anh xong, chị tìm thấy một tập nhật ký dấu kỹ dưới đầu giường. Chị vẫn còn để trên bàn thờ, chờ ngày giáp năm thì đốt luôn.
Chị bảo tôi cùng về nhà với chị, để chị trao lại cuốn nhật ký, kỷ vật duy nhất của một người cùng sống chung trong cảnh khốn cùng với cha con chị trong gần ba mươi năm, và bây giờ mới biết đó là người yêu của cô em gái thương quí của tôi.
Chị bảo taxi dừng lại trước một ngõ tắt phía sau ga xe lửa. Tôi trả tiền, theo chị băng qua hai con đường sắt, đi quanh co theo mấy con hẻm thì đến nhà.
Tôi xin phép thắp hương trước bàn thờ của ba chị và Bá, trên một cái kệ nhỏ bằng gổ treo trên vách. Tôi khẩn khoản xin chị nhận một số tiền để chăm sóc ngôi mộ của ông cụ, em gái tôi và Bá, một ít làm vốn buôn bán để đỡ vất vả hơn xưa. Tôi xin nhận Trang là cô em kết nghĩa và từ nay Trang là ngưỡi thân quen duy nhất của tôi còn lại ở Nha-Trang.
Chia tay, tôi đi bộ về khách sạn, cầm theo cuốn nhật ký trên tay, mà cứ tưởng như mình vừa nhận một món quà quí giá của người thân gởi về từ một cõi nào đó thật xa xăm.
Ngày 2/5
Vết thương còn đau đớn và máu còn thấm đỏ qua mấy lớp băng, vậy mà mình bị người ta đuổi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa, trong hoàn cảnh tứ cố vô thân. May mắn nhờ một ân nhân nghèo nhưng lại giàu lòng bác ái, đùm bọc, nuôi nấng và chăm sóc vết thương.
Nhiều lần, trong vực sâu tuyệt vọng, mình không muốn sống thêm một ngày nào nữa, nhưng lòng mình lúc nào cũng hướng về chúa Kitô, và xin phó thác tất cả ở nơi Ngài.
…….
Ngày 20.6
Cuối cùng, thì mình quyết định trở về Nha-trang, bởi lẽ mình không còn có một chỗ nào khác để trở về. Mình về đây để tìm lại những kỷ niệm đẹp đẽ nhất của đời mình, của những ngày mình còn có An-Bình. Từ ngày gặp An-Bình, mình nghĩ là mình đã thuộc về Nha-Trang, miền thùy dương rạt rào thơ mộng này. Đau đớn thay, hôm nay mình chẳng phải là mình ngày trước, mà chỉ là một kẻ tật nguyền thê thảm. Mình sẽ không bao giờ gặp lại An-Bình, mà chỉ mong về đây để được sống với hình ảnh của nàng

Ngày 08/7
Ngày hôm nay có lẽ là ngày đau đớn nhất trong đời mình. Đau đớn hơn cả cái ngày mình tỉnh dậy trong quân y viện và biết mình trở thành một người tàn phế.
Mình lê lết khắp nơi hỏi thăm tin tức An-Bình, được biết là em đã quyên sinh.
An-Bình ơi, xin em hãy tha thứ cho anh. Trong vận cùng của một đất nước mà anh chỉ là một thằng lính hèn mọn nhỏ nhoi, làm sao có thể giữ được bầu trời Nha-Trang này cho em, và cho những kỷ niệm của chúng mình..
Một hồi chuông nhà thờ làm tôi giật mình. Ngẫng đầu lên mới biết mình đang đừng trước nhà thờ đá. Tôi thẩn thờ bước lên những bậc “tam cấp”, đến trước tượng Đức Mẹ. Tôi là người ngoại đạo, không biết phải cầu nguyện như thế nào. Tôi chấp hai tay trước ngực, kính cẩn xin Thiên Chúa Từ Bi và Đức Mẹ Maria cứu vớt linh hồn của hai người hoạn nạn và xin cho họ được cùng phục sinh với Chúa để tình yêu của họ mãi mãi vĩnh hằng trong một thế giới bình an, không còn có hận thù.
Tôi không còn ý định dời ngôi mộ em tôi về bên cạnh cha mẹ tôi. Tôi về quê, quỳ trước mộ cha mẹ tôi để xin phép được xây lại hai ngôi mộ của em tôi và Bá chung trong một vòng thành. Không ai có quyền chia rẽ họ thêm một lần nữa, dù bây giờ chỉ còn là một thế giới vô hình.

Cũng như lần trước, ngày cuối cùng, tôi thuê xích lô đi một vòng dọc theo con đường Duy Tân cũ. Con đường đẹp nhất của Nha-Trang. Những cơ sở công quyền, những dinh thự của cán bộ bây giờ đựơc dựng lên nguy nga đồ sộ.
Nhìn lá cờ màu đỏ trên mấy nóc nhà, bỗng dưng tôi lạnh toát cả người. Chẳng lẽ những thay đổi “to lớn”ấy mà phải xây trên máu xương, trên những đớn đau, chia lìa thảm khốc của bao nhiêu thế hệ đã từng một thời góp sức tạo nên cái thành phố hiền hòa thơ mộng này.

Bỗng chốc, tôi không còn nhìn thấy thành phố Nha-Trang đâu nữa. Trước mắt tôi bây giờ chỉ còn là một bãi tha ma, dài ra, vô tận. Tôi nghe trong gió văng vẳng tiếng đàn dạo bài Nha-Trang, mà ngày xưa đài phát thanh Nha-Trang dùng làm nhạc hiệu mở đầu. Tôi nhớ tới cái chết thảm khốc của nhạc sĩ Minh-Kỳ, tác giả bản nhạc quen thuộc một thời này, ông cũng đã bị giết vào tháng 8/75, khi cùng bị nhốt chung với tôi trong trại tù cải tạo An Dưỡng, Biên Hòa.

Phạm Tín An Ninh
(Vương Quôc Na-Uy)

 

Truyện Ngắn: Một Buổi Tối Mùa Thu – Short Story of Maxim Gorki

Một buổi tối mùa thu

Truyện ngắn của: Maxim Gorki 
Mùa thu năm ấy, tôi tròn mười sáu tuổi, đúng vào độ tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất của đời người. Thế nhưng lúc bấy giờ tôi lại lâm vào hoàn cảnh thật khó khăn, khi vừa đặt chân đến một thành phố xa lạ mà trong túi cũng vừa cạn tiền. Sau khi bán sạch những gì có thể bán được, chỉ giữ lại trên người những thứ tối cần thiết để che thân, tôi rời khỏi thành phố, lê bước đến vùng Ustche.
Cảng sông này có những bến tàu thông thường rất nhộn nhịp, nhưng giờ đây vắng vẻ im lìm vì đã vào những ngày cuối năm.

Chân bước ngập ngừng trên đường, mắt chăm chăm nhìn xuống nền cát ẩm hy vọng kiếm được mẩu thức ăn thừa, tôi lầm lũi vượt qua những ngôi nhà khang trang, những quầy hàng to lớn, đầu óc cứ bị ám ảnh với ý nghĩ giá mà có được một bữa no nê thì không gì hạnh phúc hơn.
Trong tình trạng của tôi lúc bấy giờ, cái đói của tâm hồn được thỏa mãn nhanh chóng hơn cái đói của thể xác. Lang thang trên các con phố, quan sát những căn nhà đẹp đẽ cả bên ngoài lẫn nội thất bên trong, điềâu ấy gợi cho người ngắm những ý nghĩ vui thích về kiến trúc, về trang trí và về nhiều cái cao cả khác. Kể cả những con người tôi gặp cũng thế, ai nấy đều ăn mặc tươm tất, ấm áp và lịch lãm. Tuy nhiên, hầu hết họ đều cố tình lảng tránh một tay cầu bơ cầu bất như tôi. Có lẽ do bản tính tế nhị, họ không muốn nhìn thấy một sự thật đau lòng là trên đời lại có những kẻ dáng vẻ thảm hại dường kia.
Trời sụp tối. Cơn mưa bất thần ập tới. Gió bấc giật từng cơn, luồn lách qua những cửa hàng rồi va đập vào khung cửa sổ của các khách sạn. Gió hung hãn xô từng đợt nước sủi bọt ầm ầm lên bờ, tung những bọt nước lên cao, hăm hở nhảy qua đầu nhau rồi cuống quýt kéo ngược về hòa vào dòng nước ngầu đục phía sau.

 

Dường như dòng sông cảm nhận mùa đông đang tới gần nên hoảng hốt chạy trốn lớp băng giá mà gió bấc sẽ tàn nhẫn phủ trùm lên nó trong đêm.
Bầu trời càng lúc càng nặng nề u ám. Hai cây liễu gục ngã dưới trận cuồng phong tạo nên một hình thù quái gở càng làm tăng vẻ thê lương của trời đất. Một chiếc thuyền độc mộc thủng đáy nằm úp sấp bên cạnh gốc cây, trông già cỗi và thảm thương. Cảnh hoang tàn bày ra khắp xung quanh trong khi trời vẫn không ngừng tuôn suối lệ.
Tôi đi trên mặt cát ướt lạnh lẽo, răng va vào nhau lập cập vì đói và lạnh. Vòng ra phía sau một quán hàng, tôi kiên nhẫn tìm kiếm bất cứ thức gì ăn được cho đỡ đói lòng và đột nhiên trông thấy một bóng người thấp thoáng trước mắt. Tôi đứng phắt lại và chăm chú nhìn. Có vẻ như người ấy đang lom khom dùng tay bới đám cát ở phía dưới quán hàng. Tôi bèn nhẹ nhàng ngồi xổm bên cạnh và cất tiếng hỏi:
– Cậu bới cát làm gì thế?
Người đó khẽ kêu lên với giọng sợ hãi và đứng phắt dậy, quay sang nhìn tôi bằng đôi mắt mở to đầy hốt hoảng. Tôi nhận ra đó là một cô gái trạc tuổi mình với dáng vẻ dễ thương, có thể gọi là xinh xắn nếu không có ba vết tím bầm to tướng trên mặt. Những vết bầm này được sắp xếp hết sức cân đối, hai vết bằng nhau ở dưới mỗi mắt còn cái thứ ba nằm ngay giữa trán. Sự hài hòa này cho thấy đây là công trình của một chuyên gia sành điệu trong việc làm hỏng diện mạo người khác.
Cô gái chăm chú nhìn tôi và vẻ sợ hãi trong mắt cô mất dần. Cô phủi hai bàn tay dính đầy cát, sửa lại chiếc khăn san trên đầu và bình thản nói:
– Anh cũng đang đói phải không? Nào, phụ với tôi đi, tôi mỏi tay quá rồi. Trong quán này chắc chắn phải có bánh mì…
Không nói không rằng, tôi bắt đầu bới cát. Cô gái ngắm nghía tôi một hồi rồi ngồi xuống và hai chúng tôi lẳng lặng đào tiếp. Quả thực lúc ấy tôi không hề bận tâm đến luật pháp, đạo đức hay tất cả những luân lý ở đời mà một công dân gương mẫu phải luôn tâm niệm. Giây phút đó tôi đặt hết tâm trí vào việc bới cát và chỉ nghĩ một điều là cố gắng đột nhập được vào trong cái quán ấy.
Bóng tối ẩm ướt và giá rét mỗi lúc một dày đặc chung quanh. Tiếng sóng vỗ bờ to hơn trước, mưa càng nặng hạt hơn trên những mái nhà. Tiếng mõ của người gác đêm giục lên xa xôi.
– Quán này có sàn không nhỉ? – Người phụ việc của tôi khẽ hỏi. Tôi chưa hiểu rõ ý cô muốn gì nên im lặng.
– Anh nghe này. Nếu quán có sàn gỗ xem như chúng mình nhọc công vô ích. Đào hố xong thì sẽ gặp những tấm ván dày, làm thế nào bật lên được? Tốt hơn là nên bẻ khóa.
Thế đấy, phụ nữ ít khi sử dụng đến đầu óc, nhưng khi hữu sự họ lại có thể nảy ra những ý tưởng tuyệt vời. Tôi vẫn luôn đánh giá cao những ý nghĩ sáng giá ấy và tìm cách vận dụng bằng mọi cách có thể được. Vậy là tôi mò mẫm tìm ổ khóa và nhanh chóng nạy tung ra. Nhanh như cắt, cô bạn mới quen của tôi luồn vào bên trong và reo lên hoan hỉ:
– Anh thật cừ khôi!
Đối với tôi, một lời khen nhỏ nhặt của phụ nữ bao giờ cũng quý hơn cả một bài văn chúc tụng tràng giang đại hải của nam giới, nhưng lúc bấy giờ tôi chẳng hề để tâm đến lời khen của cô gái mà hồi hộp hỏi với giọng cụt lủn:
– Có cái gì không?
Cô bắt đầu kể ra những món trước mắt:
– Có cái thùng đựng chai, mấy cái túi xắc, chiếc dù, cái phuy sắt…
Toàn những thứ không ăn được! Tôi bắt đầu cảm thấy thất vọng thì nghe giọng cô cất lên hớn hở:
– A, nó đây rồi…
– Chết, ai thế?
– Bánh mì… một chiếc bánh mì tròn… có hơi bị ướt. Này, cầm lấy!
Ổ bánh mì lăn ngay tới chân tôi và tiếp đó, cô bạn tòng phạm dũng cảm của tôi cũng trở ra. Tôi rứt một mẩu bánh bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến.
– Kìa, đưa cho tôi với chứ! Và mau mau rời khỏi đây thôi. Nhưng… ta đi đâu bây giờ nhỉ?
– Đằng kia có chiếc thuyền lật úp… Chúng mình có thể chui vào đấy.
Thế là hai chúng tôi vừa nhai bánh mì vừa vội vã chạy đến chỗ trú ẩn. Mưa vẫn tuôn xối xả cùng với tiếng sóng gào thét ầm vang. Gió rít từng cơn nghe như tiếng huýt sáo ngân dài đầy vẻ giễu cợt, tựa như một người khổng lồ đang cười nhạo mọi sự trên đời, mỉa mai cái buổi tối mùa thu ảm đạm này và chế giễu cả thân phận đáng thương của hai chúng tôi. Một nỗi đau đớn âm thầm len lỏi vào tim, tuy thế miệng tôi vẫn không ngừng nhai và cô gái bên cạnh tôi cũng nhiệt tình không kém trong việc này.
– Tên cô là gì? – Tôi hỏi bâng quơ.
– Natasa – Cô lơ đễnh trả lời.
Tôi q+uay sang nhìn cô mà lòng đau thắt, cảm thấy số phận của chúng tôi cũng đen đủi chẳng khác gì bóng tối mênh mông đang ngự trị chung quanh. Mưa không ngớt vỗ vào ván thuyền, giọt dài giọt vắn gợi lên những ý nghĩ buồn thảm. Gió phi nước đại dọc bờ sông hoang vắng, lướt trên dòng nước ngầu bọt và cất lên những điệu ru não nuột. Gió lùa vào đáy thuyền thủng, lọt qua khe hở làm lay động một mảnh vỏ gỗ. Mảnh vỏ kiên cường bám lấy ván thuyền, vật vã cất tiếng kêu thảm thiết đầy lo lắng. Mưa tuôn xối xả hòa với tiếng sóng vỗ bờ tạo thành âm thanh tựa như tiếng thở dài phát ra từ lòng sâu của trái đất, chắc hẳn đang chán ngán và mệt mỏi trước sự đổi thay đột ngột của thiên nhiên.
Chỗ ẩn náu bên dưới con thuyền thật bất tiện vì chật chội và ướt át. Chúng tôi ngồi im lặng, run cầm cập vì rét. Natasa tựa lưng vào mạn thuyền, hai tay bó gối và tì cằm lên đầu gối. Cô nhìn chằm chằm vào khoảng không, khuôn mặt mờ mờ trắng và những vết tím bầm ở dưới mắt làm cho đôi mắt có vẻ quá to. Dáng ngồi bất động và câm nín ấy khiến tôi dần dần cầm thấy e sợ, vì vậy tôi muốn gợi chuyện với cô nhưng chưa biết nên mở đầu thế nào. Chính cô lên tiếng trước:
– Cuộc sống khốn kiếp!…
Cô thốt rõ ràng từng tiếng, với giọng điệu biểu lộ một niềm tin sâu sắc về điều mình vừa thốt ra. Cái giọng nói quá đỗi lãnh đạm ấy không có vẻ gì là than vãn cả. Chẳng qua cô tập trung mọi suy nghĩ để đi đến một kết luận hiển nhiên rồi bật ra thành lời. Tôi không thể phản đối cái kết luận đúng đắn ấy nếu không muốn mâu thuẫn với chính mình, do vậy tôi tiếp tục im lặng. Còn cô, dường như chẳng buồn để tâm đến mọi sự, vẫn ngồi không nhúc nhích.
– Giá cứ chết quách đi cho rảnh…
Natasa lại lên tiếng, giọng nói lần này khẽ khàng và cũng không phải là lời than vãn. Rõ ràng sau khi suy nghĩ về cuộc sống, cô gái đã nhìn lại bản thân và đi đến một kết luận chắc như đinh đóng cột rằng muốn dứt khỏi những hệ lụy của cuộc đời này thì không còn cách gì tốt hơn là chết quách đi cho rảnh”.
Tôi đau nhói lòng về cách suy nghĩ rành mạch ấy và cảm thấy nếu cứ giữ im lặng thì đến phát khóc mất, mà như thế thật xấu hổ trước mặt phụ nữ. Tôi quyết định nói chuyện với cô, nhưng nghĩ mãi không ra câu gì nên hỏi bừa:
– Ai đánh cô thế
– Paska chứ còn ai.
– Nhưng Paska là ai?
– Người yêu.
– Anh ấy vẫn thường đánh cô à?
– Cứ nốc rượu vào là đánh.
Bỗng nhiên cô gái nhích lại gần tôi rồi bắt đầu kể lể. Hóa ra cô làm cái nghề bán thân nuôi miệng. Còn Paska là thợ bánh mì, có bộ ria hung quyến rũ, biết chơi đàn accordeon, luôn khoác chiếc áo bành tô rất mốt và đi đôi ủng thật hách. Anh ta thường lân la đến xóm bán hoa và khiến cô chết mê chết mệt bởi tính tình xởi lởi và bề ngoài bảnh chọe. Tuy nhiên Natasa kể rằng Paska lại chỉ chuyên “ăn quỵt”, không những thế, anh ta còn tìm cách moi tiền của cô để đi uống rượu, rồi khi ngà ngà say lại đánh đập cô. Nhưng nếu chỉ có thế thôi thì còn chịu được, đằng này Paska lại còn là kẻ phản bội:
– Anh biết không, hôm kia tôi đến nhà Paska định rủ đi chơi. Không ngờ gặp con Dunka đang ngả ngớn ngồi uống rượu ở đấy. Tôi nổi cơn thịnh nộ: “Mày là đồ đểu giả, đồ bịp bợm”. Thế là hắn đánh tôi mềm người, hết đấm đá lại giật tóc. Cái đó cũng chẳng sao, tôi quen rồi. Nhưng hắn còn xé rách hết xống áo, cả áo ngoài, áo trong, cả khăn quàng đầu nữa…
Đến đấy, bỗng nhiên cô nức lên, giọng nói não nuột đến chạnh lòng: Lạy Chúa! Làm thế nào bây giờ? Tôi phải ăn nói sao với bà chủ đây?
Gió gào rít mỗi lúc một mạnh hơn và hai hàm răng của tôi bắt đầu va vào nhau lập cập. Cô gái cũng co ro vì lạnh, xích sát vào tôi đến độ có thể nhìn thấy tia sáng trong ánh mắt cô:
– Đàn ông đúng là một lũ hèn hạ. Tôi muốn chà đạp lên tất cả các người. Nếu có kẻ nào lăn đùng ra chết thì tôi sẽ càng hả dạ chứ chẳng hề thương hại. Bình thường thì cứ xán đến, khoe mẽ như những con chó đực trơ tráo. Nhưng hễ cô gái khờ khạo nào hiến thân cho các người là tàn đời. Bấy giờ các người sẽ thản nhiên giẫm đạp họ dưới chân mình. Đồ đểu giả!
Cô sử dụng ngôn ngữ vỉa hè lưu loát, nhưng những lời chửi rủa của cô không kịch liệt và tôi cảm thấy có vẻ như cô không hề căm hờn những quân đểu giả . Nói chung, giọng cô điềm đạm, ngữ khí không phù hợp với nội dung. Tuy nhiên, cái giọng buồn thảm ấy tác động đến tôi còn mạnh mẽ hơn cả những bài diễn văn bi hùng, sôi nổi và có sức thuyết phục nhất mà trước đây và cả về sau này tôi từng được nghe.
Bỗng dưng tôi thấy khó chịu trong người, chẳng biết vì lạnh hay vì lời lẽ của cô bạn đang ngồi bên cạnh. Tôi khẽ rên lên, cố nghiến răng chịu đựng. Ngay lúc đó, tôi cảm thấy đôi bàn tay nhỏ bé lạnh giá của cô chạm vào mình. Một tay sờ vào trán, tay kia cô thận trọng áp vào mặt tôi đồng thời cất tiếng nhỏ nhẹ:
– Anh làm sao thế?
Trong một thoáng tôi tưởng chừng như đó là người nào khác hỏi tôi chứ không phải là Natasa, cô gái vừa mới tuyên án tất cả đàn ông đều là những kẻ đê tiện và cầu mong cho họ chết ráo cả đi. Natasa hỏi với giọng lo lắng:
– Anh làm sao thế? Lạnh à? Sắp rét cóng hả? Ồ, hay chưa, thế mà cứ ngồi im thin thít? Đáng lẽ phải báo cho tôi biết ngay chứ. Nào, nằm dài xuống, duỗi hai tay ra. Tôi sẽ nằm lên anh. Bây giờ hãy ôm lấy tôi, cả hai tay ấy, ôm thật chặt vào. Đúng rồi. Chỉ một chốc anh sẽ thấy ấm ngay. Lát nữa chúng mình lại nằm quay lưng vào nhau, cốt sao cho qua cái đêm này. Đừng nghĩ ngợi gì cả. Mọi việc rồi sẽ ổn thôi…
Cứ thế, cô an ủi tôi, động viên tôi. Trong khi đó, bản thân tôi thì đang tự nguyền rủa mình! Thật mỉa mai cho tôi biết chừng nào! Thử nghĩ mà xem, hồi ấy tôi thật sự quan tâm đến số phận nhân loại, mơ ước thay đổi trật tự xã hội, ôm ấp lý tưởng chính trị cao xa, nghiền ngẫm đủ các loại sách triết lý mà tư tưởng sâu sắc đến nỗi có khi chính các tác giả cũng không hiểu hết những điều mình rao giảng. Tôi đang hăm hở chuẩn bị cho mình trở thành một lực lượng hoạt động nòng cốt để cải tạo cả thế giới.
Ấy thế mà cô gái giang hồ bất hạnh, bị đánh đập, bị xua đuổi, bị khinh rẻ và bị xô đẩy ra bên lề cuộc sống này đã lấy thân mình sưởi ấm cho tôi, trong khi tôi lại không hề nghĩ tới chuyện lo lắng cho cô, mà nếu như có nghĩ tới thì chưa chắc đã giúp được gì!
Chao ơi, tôi sẵn sàng cho rằng chuyện này chẳng qua chỉ là một giấc mơ. Tuy nhiên, thực tế không cho phép tôi tự lừa dối mình, bởi vì những giọt mưa lạnh tiếp tục nhỏ giọt xuống người tôi, bởi vì bộ ngực cô gái vẫn áp chặt vào tôi, và hơi thở nhẹ nhàng của cô phả vào mặt tôi – tuy có hơi thoảng mùi Vodka – nhưng vẫn làm cho tôi thấy ấm cả người.
Tất cả những cái đó hoàn toàn thật và tôi chua xót nghĩ rằng chẳng có giấc chiêm bao nào nặng nề và tai quái như cái sự thật này. Natasa vẫn tiếp tục thầm thì điều gì không rõ, với cái giọng chứa chan tình cảm và âu yếm mà chỉ phụ nữ mới có được. Những lời lẽ mộc mạc, trìu mến của cô nhen nhúm một ngọn lửa ấm áp và khơi gợi một tình cảm lai láng trong tim tôi.
Thế là nước mắt tôi tuôn như mưa, cuốn trôi đi bao nhiêu nỗi căm hờn, buồn phiền, oán giận vẫn tích tụ trong lòng từ trước đến nay. Natasa dỗ dành tôi:
– Thôi đừng buồn khóc nữa, anh ạ! Chúa sẽ phù hộ anh. Rồi anh sẽ vượt qua những khó khăn, sẽ có chỗ làm mới, sẽ tìm được…
Cứ thế, cô nhẫn nại khuyên nhủ tôi. Rồi cô nồng nhiệt hôn khắp người tôi, những nụ hôn trong trắng, hồn nhiên và không tính toán. Đó là những chiếc hôn đầu tiên của phụ nữ mà tôi nhận được trong đời, cũng là những nụå hôn tốt đẹp nhất. Bởi vì so với lần đó, tất cả những cái hôn về sau này đều đắt giá và hầu như chẳng đem lại gì cho tôi cả. Và chúng tôi ôm nhau nằm đến sáng.
Rạng sáng hôm sau, chúng tôi chui ra khỏi thuyền, cùng đi vào thành phố rồi thân mật chia tay nhau. Để rồi từ đó trở đi tôi chẳng bao giờ gặp lại cô nữa, mặc dù trong suốt sáu tháng trời sau, tôi đã sục sạo tìm cô khắp hang cùng ngõ hẻm.
Natasa, cô bạn đáng yêu! Nếu giờ đây cô đã qua đời – thế là may cho cô – thì cầu xin cho linh hồn cô được cứu rỗi. Nếu cô còn sống, cầu mong cho tâm hồn cô được thanh thản! Tôi ước ao sao những ý nghĩ đen tối đừng thức dậy trong tâm hồn cô nữa, bởi vì đó là nỗi đau khổ vô ích trong cuộc sống, và nó không phù hợp với bản chất thánh thiện của cô.

Short Story: THE LAST LEAF – by O Henry ***Truyện ngắn: CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG

Chiếc lá cuối cùng

… được O. Henry sáng tác năm 1907, là một truyện ngắn nổi tiếng được biết đến nhiều nhất, đã được đưa vào …

Trong một quận nhỏ phia đông Washington, các con đường chạy ngoằn nghoèo một cách điên dại, cắt quãng thành những dải nhỏ gọi là “vùng”. Những …  (Xin xem tiếp phần tiếng Việt bên dưới)

*******

O. Henry

… is the pen name of William Sydney Porter (1862 – 1910). The stories he wrote are known for their clever twist endings — and his personal life was as interesting as any story !

Besides being a well known writer, under the O. Henry name, Porter was a singer and musician. His life became troubled when his wife suffered from tuberculosis and he lost his job, at the Bank he worked for, when they accused him of embezzlement . Later he was indicted and arrested but he continuously denied the charges. When it came time to stand trial, he fled to Honduras but later came back when his wife was dying. He ended up standing trial for the embezzlement and sentenced to five years in an Ohio Penitentiary. While in prison he continued writing his stories and a friend would mail them to the publisher so that it wouldn’t be known he was in prison. Later after being released, and his writing became successful, he began drinking heavily and his health deteriorated. He died in 1910 of cirrhosis of the liver, diabetes and an enlarged heart.

The following is one of his well-known short stories.

****

In a little district west of Washington Square the streets have run crazy and broken themselves into small strips called “places.” These “places” make strange angles and curves. One Street crosses itself a time or two. An artist once discovered a valuable possibility in this street. Suppose a collector with a bill for paints, paper and canvas should, in traversing this route, suddenly meet himself coming back, without a cent having been paid on account!

So, to quaint old Greenwich Village the art people soon came prowling, hunting for north windows and eighteenth-century gables and Dutch attics and low rents. Then they imported some pewter mugs and a chafing dish or two from Sixth Avenue, and became a “colony.”

At the top of a squatty, three-story brick Sue and Johnsy had their studio. “Johnsy” was familiar for Joanna. One was from Maine; the other from California. They had met at the table d’hôte of an Eighth Street “Delmonico’s,” and found their tastes in art, chicory salad and bishop sleeves so congenial that the joint studio resulted.

That was in May. In November a cold, unseen stranger, whom the doctors called Pneumonia, stalked about the colony, touching one here and there with his icy fingers. Over on the east side this ravager strode boldly, smiting his victims by scores, but his feet trod slowly through the maze of the narrow and moss-grown “places.”

Mr. Pneumonia was not what you would call a chivalric old gentleman. A mite of a little woman with blood thinned by California zephyrs was hardly fair game for the red-fisted, short-breathed old duffer. But Johnsy he smote; and she lay, scarcely moving, on her painted iron bedstead, looking through the small Dutch window-panes at the blank side of the next brick house.

One morning the busy doctor invited Sue into the hallway with a shaggy, gray eyebrow.

“She has one chance in – let us say, ten,” he said, as he shook down the mercury in his clinical thermometer. ” And that chance is for her to want to live. This way people have of lining-u on the side of the undertaker makes the entire pharmacopoeia look silly. Your little lady has made up her mind that she’s not going to get well. Has she anything on her mind?”

“She – she wanted to paint the Bay of Naples some day.” said Sue.

“Paint? – bosh! Has she anything on her mind worth thinking twice – a man for instance?”

“A man?” said Sue, with a jew’s-harp twang in her voice. “Is a man worth – but, no, doctor; there is nothing of the kind.”

“Well, it is the weakness, then,” said the doctor. “I will do all that science, so far as it may filter through my efforts, can accomplish. But whenever my patient begins to count the carriages in her funeral procession I subtract 50 per cent from the curative power of medicines. If you will get her to ask one question about the new winter styles in cloak sleeves I will promise you a one-in-five chance for her, instead of one in ten.”

After the doctor had gone Sue went into the workroom and cried a Japanese napkin to a pulp. Then she swaggered into Johnsy’s room with her drawing board, whistling ragtime.

Johnsy lay, scarcely making a ripple under the bedclothes, with her face toward the window. Sue stopped whistling, thinking she was asleep.

She arranged her board and began a pen-and-ink drawing to illustrate a

Image

magazine story. Young artists must pave their way to Art by drawing pictures for magazine stories that young authors write to pave their way to Literature.

As Sue was sketching a pair of elegant horseshow riding trousers and a monocle of the figure of the hero, an Idaho cowboy, she heard a low sound, several times repeated. She went quickly to the bedside.

Johnsy’s eyes were open wide. She was looking out the window and counting – counting backward.

“Twelve,” she said, and little later “eleven”; and then “ten,” and “nine”; and then “eight” and “seven”, almost together.

Sue look solicitously out of the window. What was there to count? There was only a bare, dreary yard to be seen, and the blank side of the brick house twenty feet away. An old, old ivy vine, gnarled and decayed at the roots, climbed half way up the brick wall. The cold breath of autumn had stricken its leaves from the vine until its skeleton branches clung, almost bare, to the crumbling bricks.

“What is it, dear?” asked Sue.

“Six,” said Johnsy, in almost a whisper. “They’re falling faster now. Three days ago there were almost a hundred. It made my head ache to count them. But now it’s easy. There goes another one. There are only five left now.”

“Five what, dear? Tell your Sudie.”

“Leaves. On the ivy vine. When the last one falls I must go, too. I’ve known that for three days. Didn’t the doctor tell you?”

“Oh, I never heard of such nonsense,” complained Sue, with magnificent scorn. “What have old ivy leaves to do with your getting well? And you used to love that vine so, you naughty girl. Don’t be a goosey. Why, the doctor told me this morning that your chances for getting well real soon were – let’s see exactly what he said – he said the chances were ten to one! Why, that’s almost as good a chance as we have in New York when we ride on the street cars or walk past a new building. Try to take some broth now, and let Sudie go back to her drawing, so she can sell the editor man with it, and buy port wine for her sick child, and pork chops for her greedy self.”

“You needn’t get any more wine,” said Johnsy, keeping her eyes fixed out the window. “There goes another. No, I don’t want any broth. That leaves just four. I want to see the last one fall before it gets dark. Then I’ll go, too.”

“Johnsy, dear,” said Sue, bending over her, “will you promise me to keep your eyes closed, and not look out the window until I am done working? I must hand those drawings in by to-morrow. I need the light, or I would draw the shade down.”

“Couldn’t you draw in the other room?” asked Johnsy, coldly.

“I’d rather be here by you,” said Sue. “Beside, I don’t want you to keep looking at those silly ivy leaves.”

“Tell me as soon as you have finished,” said Johnsy, closing her eyes, and lying white and still as fallen statue, “because I want to see the last one fall. I’m tired of waiting. I’m tired of thinking. I want to turn loose my hold on everything, and go sailing down, down, just like one of those poor, tired leaves.”

“Try to sleep,” said Sue. “I must call Behrman up to be my model for the old hermit miner. I’ll not be gone a minute. Don’t try to move ’til I come back.”

Old Behrman was a painter who lived on the ground floor beneath them. He was past sixty and had a Michael Angelo’s Moses beard curling down from the head of a satyr along with the body of an imp. Behrman was a failure in art. Forty years he had wielded the brush without getting near enough to touch the hem of his Mistress’s robe. He had been always about to paint a masterpiece, but had never yet begun it. For several years he had painted nothing except now and then a daub in the line of commerce or advertising. He earned a little by serving as a model to those young artists in the colony who could not pay the price of a professional. He drank gin to excess, and still talked of his coming masterpiece. For the rest he was a fierce little old man, who scoffed terribly at softness in any one, and who regarded himself as especial mastiff-in-waiting to protect the two young artists in the studio above.

Sue found Behrman smelling strongly of juniper berries in his dimly lighted den below. In one corner was a blank canvas on an easel that had been waiting there for twenty-five years to receive the first line of the masterpiece. She told him of Johnsy’s fancy, and how she feared she would, indeed, light and fragile as a leaf herself, float away, when her slight hold upon the world grew weaker.

Old Behrman, with his red eyes plainly streaming, shouted his contempt and derision for such idiotic imaginings.

“Vass!” he cried. “Is dere people in de world mit der foolishness to die because leafs dey drop off from a confounded vine? I haf not heard of such a thing. No, I will not bose as a model for your fool hermit-dunderhead. Vy do you allow dot silly pusiness to come in der brain of her? Ach, dot poor leetle Miss Yohnsy.”

“She is very ill and weak,” said Sue, “and the fever has left her mind morbid and full of strange fancies. Very well, Mr. Behrman, if you do not care to pose for me, you needn’t. But I think you are a horrid old – old flibbertigibbet.”

“You are just like a woman!” yelled Behrman. “Who said I will not bose? Go on. I come mit you. For half an hour I haf peen trying to say dot I am ready to bose. Gott! dis is not any blace in which one so goot as Miss Yohnsy shall lie sick. Some day I vill baint a masterpiece, and ve shall all go away. Gott! yes.”

Johnsy was sleeping when they went upstairs. Sue pulled the shade down to the window-sill, and motioned Behrman into the other room. In there they peered out the window fearfully at the ivy vine. Then they looked at each other for a moment without speaking. A persistent, cold rain was falling, mingled with snow. Behrman, in his old blue shirt, took his seat as the hermit miner on an upturned kettle for a rock.

When Sue awoke from an hour’s sleep the next morning she found Johnsy with dull, wide-open eyes staring at the drawn green shade.

Pull it up; I want to see,” she ordered, in a whisper.

Wearily Sue obeyed.

But, lo! after the beating rain and fierce gusts of wind that had endured through the livelong night, there yet stood out against the brick wall one ivy leaf. It was the last one on the vine. Still dark green near its stem, with its serrated edges tinted with the yellow of dissolution and decay, it hung bravely from the branch some twenty feet above the ground.

“It is the last one,” said Johnsy. “I thought it would surely fall during the night. I heard the wind. It will fall to-day, and I shall die at the same time.”

“Dear, dear!” said Sue, leaning her worn face down to the pillow, “think of me, if you won’t think of yourself. What would I do?”

But Johnsy did not answer. The lonesomest thing in all the world is a soul when it is making ready to go on its mysterious, far journey. The fancy seemed to possess her more strongly as one by one the ties that bound her to friendship and to earth were loosed.

The day wore away, and even through the twilight they could see the lone ivy leaf clinging to its stem against the wall. And then, with the coming of the night the north wind was again loosed, while the rain still beat against the windows and pattered down from the low Dutch eaves.

When it was light enough Johnsy, the merciless, commanded that the shade be raised.

The ivy leaf was still there.

Johnsy lay for a long time looking at it. And then she called to Sue, who was stirring her chicken broth over the gas stove.

“I’ve been a bad girl, Sudie,” said Johnsy. “Something has made that last leaf stay there to show me how wicked I was. It is a sin to want to die. You may bring a me a little broth now, and some milk with a little port in it, and – no; bring me a hand-mirror first, and then pack some pillows about me, and I will sit up and watch you cook.”

And hour later she said:

“Sudie, some day I hope to paint the Bay of Naples.”

The doctor came in the afternoon, and Sue had an excuse to go into the hallway as he left.

“Even chances,” said the doctor, taking Sue’s thin, shaking hand in his. “With good nursing you’ll win.” And now I must see another case I have downstairs. Behrman, his name is – some kind of an artist, I believe. Pneumonia, too. He is an old, weak man, and the attack is acute. There is no hope for him; but he goes to the hospital to-day to be made more comfortable.”

The next day the doctor said to Sue: “She’s out of danger. You won. Nutrition and care now – that’s all.”

And that afternoon Sue came to the bed where Johnsy lay, contentedly knitting a very blue and very useless woollen shoulder scarf, and put one arm around her, pillows and all.

“I have something to tell you, white mouse,” she said. “Mr. Behrman died of pneumonia to-day in the hospital. He was ill only two days. The janitor found him the morning of the first day in his room downstairs helpless with pain. His shoes and clothing were wet through and icy cold. They couldn’t imagine where he had been on such a dreadful night. And then they found a lantern, still lighted, and a ladder that had been dragged from its place, and some scattered brushes, and a palette with green and yellow colors mixed on it, and – look out the window, dear, at the last ivy leaf on the wall. Didn’t you wonder why it never fluttered or moved when the wind blew? Ah, darling, it’s Behrman’s masterpiece – he painted it there the night that the last leaf fell.”

The last leaf – Chiếc lá cuối cùng…

… được O. Henry sáng tác năm 1907, là một truyện ngắn nổi tiếng được biết đến nhiều nhất, đã được đưa vào sách giáo khoa của nhiều nước để giới thiệu văn học nước ngoài. Truyện nói về cuộc sống khổ cực của những người hoạ sĩ nghèo ở Mĩ. Cuộc sống cơ cực đã khiến Giôn-xi buông xuôi với căn bệnh sưng phổi, nhưng nhờ có chiếc lá cuối cùng Giôn-xi đã hồi sinh.

Trong một quận nhỏ phia đông Washington, các con đường chạy ngoằn nghoèo một cách điên dại, cắt quãng thành những dải nhỏ gọi là “vùng”. Những “vùng” này lọt thỏm trong những góc và đường cong lạ kì. Một con đương cắt ngang với chính nó một, hai lần. Một hoạ sĩ đã có lần khám phá là con đường có thể có giá. Ví dụ như khi một nhân viên thu ngân cầm hoá đơn của mầu vẽ, giấy và vải, sau khi đi dọc theo đường này bỗng thấy mình đã đi vòng lại chỗ cũ mà không hề thu được một xu nào cả!

Thế nên đám họa sĩ chẳng bao lâu đã kéo đến phường Greenwich, săn lùng phòng cho thuê có cửa sổ thông ra hướng bắc, góc mái kiểu thế kỷ 18, gác lửng kiểu Hà Lan, và giá thuê lại rẻ. Sau đấy họ mang vào vài lọ hợp kim thiếc, một hai cái chảo nấu ăn dã chiến, và thế là một “quần cư” thành hình.

Hai cô Sue và Johnsy cùng thuê chung một căn phòng đơn giản ở tầng trên cùng của một toà nhà ba tầng lụp xụp. “Johnsy” thực ra là tên thân mật của California. Họ đã gặp nhau tại một hiệu ăn trên đường Số Tám, và khám phá ra là họ có những sở thích tương đồng về nghệ thuật, rau diếp xoắn trộn dấm, và thời trang với tay áo giám mục. Thế là họ cùng thuê chung một căn phòng.

Đấy là vào Tháng 5. Vào tháng 11, có một kẻ ngoại nhập mang theo giá lạnh nhưng vô hình, mà các bác sĩ gọi là Viêm Phổi, rình rập trong “quần cư”, móng vuốt giá băng quệt vào đây đó. Tên giặc đã ngang nhiên hoành hành khu phía đông, hạ gục nhiều nạn nhân, nhưng hắn chỉ mới đặt chân chầm chậm qua các lối ngõ như bàn cờ của mấy “vùng” nhỏ hẹp phủ đầy rêu.

Bạn sẽ không xem Thần Viêm Phổi như một quân tử già đầy hào hiệp. Người con gái nhỏ vốn đã mất máu vì những trận gió ở Califỏnia thì lẽ ra không đáng cho một kẻ bất tài già nua bận tâm đến. Nhưng hắn đã tấn công Johnsy. Thế là cô nằm bẹp, không mấy cử động, trên chiếc giường sắt, xuyên qua khung cửa sổ kiểu Hà Lan nhìn ra bức tường trơ trụi của căn nhà gạch kế bên.

Một buổi sáng, vị bác sĩ đầy bận rộn mời Sue ra hành lang. Ông đang vẩy cái nhiệt kế thăm bệnh để mực thuỷ ngân trong đó hạ xuống.
– Cơ may khởi bệnh của cô ấy áng chừng chỉ một phần mười. Và cơ may này là tuỳ vào việc cô ấy có ý chí muốn sống hay không. Với cách con bệnh chỉ ngóng chờ công ty mai táng đến thì sách thuốc nào cũng vô dụng. Cô bạn nhỏ của cô đã bị ám ảnh là cô ấy sẽ không qua khỏi. Cô ấy có ý định gì không?
– Chị ấy… chị ấy muốn có ngày nào đó vẽ tranh phong cảnh vịnh Naples.
– Vẽ tranh à? Thật là điên rồ! Cô ấy có bận tâm nặng nề về việc gì không, chẳng hạn về một người đàn ông nào đó?
Cô Sue khịt mũi:
– Một người đàn ông à? Một người đàn ông thì có thể… mà không, bác sĩ ạ, không có chuyện như thế.
Vị bác sĩ nói:
– Thế thì là do cô ấy quá yếu rồi. Tôi sẽ cố làm mọi cách mà khoa học cho phép. Nhưng mỗi khi con bệnh của tôi bắt đầu nhẩm tính số lượng xe trong chuyến đưa đám của họ thì xem như hiệu lực của thuốc men chỉ còn một nửa. Nếu cô có cách khiến cho cô ấy hỏi han cô về thời trang mua đông thì tôi có thể đoán chắc cơ may là một phần năm, thay vì là một phần mười.
Sau khi vị bác sĩ đi khỏi, Sue đi vào phòng vẽ và khóc cho đến khi cái khăn giấy Nhật tơi tả thành bột giấy. Rồi cô đường bệ đi vào phòng của Johnsy với cái giá vẽ, miệng huýt sáo một điệu dân ca Mỹ rộn ràng.

Johnsy vẫn nằm bẹp, xem chừng không động đậy chút nào dưới tấm vải giường, mặt hướng về cái cửa sổ. Sue ngưng huýt sáo, nghĩ là bạn mình đang ngủ. Cô sắp xếp giá vẽ và bắt đầu dùng viết và mực để vẽ hình minh hoạ cho một truyện để đăng trong một tạp chí. Trong khi các hoạ sĩ trẻ tuổi phải dọn đường cho Hội Hoạ bằng cách vẽ tranh cho truyện ấy để dọn đường cho Văn Chương. Khi Sue đang phác hoạ cái quần bảnh bao và gọng kinh một tròng của một anh hùng (một tay cao bồi bang Idaho), cô nghe một tiếng nho nhỏ, lặp lại vài lần.
Cô đi vội đến bên mép giường. Johnsy đang mở mắt, nhìn ra cửa sổ, và đang đếm, đếm ngược: “mười hai”, và ít lâu sau: “mười một”, và sau đấy “mười”, rồi “chín”, rồi “tám” và “bảy” gần như liền nhau. Sue nhìn chăm chú bên ngoài cửa sổ. Có gì ở ngoài đấy đâu mà đếm? Chỉ có một khoảng sân trống buồn nản, và bức tường trơ trụi của một căn nhà gạch xa hơn chừng mười thước. Một dây thường xuân thật già cỗi, gốc vặn vẹo mục nát, leo đến giữa bức tường gạch. Ngọn gió thu lạnh đã làm rơi rụng đám lá, phơi bầy các nhánh gần như trơ trụi bám vào mấy mảng gạch vụn vỡ. Sue hỏi?
– Cái gì vậy hở bồ?
Johnsy nói, gần như thì thầm:
– Sáu. Bây giờ rơi nhanh quá. Ba ngày trước còn gần cả trăm, đếm muốn nhức đầu. Nhưng giờ thì dễ rồi. Thêm chiếc nữa. Giờ chỉ còn lại năm.
– Năm cái gì, noi cho Sue của bồ nghe nào!
– Năm chiếc lá. Trên cây thường Xuân. Khi chiếc lá cuối cùng rụng thì mình cũng sẽ ra đi. Minh đã biết như thế ba ngày nay rồi. Bác sĩ không nói cho bạn biết à.

Sue càu nhàu, với giọng khinh miệt cao quý.
– Ô hay! Minh chưa bao giờ nghe có chuyện điên khùng như vậy. Mấy cái lá thường Xuân thì có liên hệ gì đến việc bồ khỏi bệnh đâu nào? Và bồ vẫn thích cái cây này, cô nàng hư đốn ơi! Đừng có ngốc nghếch. Sáng nay ông bác sĩ nới với mình là cơ may của bồ khỏi bệnh hẳn… xem ông ấy nói gì nào… ông ấy nói cơ may chính xácd là mười trong một! Đấy cũng bằng với cơ may chúng mình có ơ New York để đáp tầu điện hay đi qua một toà nhà mới. Bây giờ ăn một tí cháo, rồi mua ít tượu vang poóc- tô cho cô bé đang bệnh, và thịt lợn cho chính tác giả ăn. Johnsy vẫn dán mắt ra ngoài cửa sổ:
– Không cần phải mua rượu vang. Thêm một chiếc nữa. Không, mình không muốn ăn cháo. Thế là còn có bốn. Mình muốn xem chiếc lá cuối cùng trước khi trời tối. Khi ấy mình cũng sẽ ra đi.
Sue nghiêng mình trên cô:
– Johnsy ơi, bồ có thể hứa nhắm mắt lại và không nhìn ra ngoài cửa sổ khi mình làm việc được không? Ngày mai mình phải đi giao mấy bức vẽ. Minh cần ánh sáng, nếu không mình phải kéo rèm xuống.
Johnsy hỏi, giọng lạnh tanh:
– Bạn có thể vẽ trong phòng kia được không?
– Mình muốn ở kề bên bồ. Hơn nữa, mình không muốn bồ cứ nhìn mãi mấy chiếc lá thường Xuân vô duyên đó.
– Cho mình biết khi nào bạn làm xong, vì mình muốn xem chiếc lá cuối cùng rụng xuống. Mình chán chờ đợi rồi.
Mình chán suy nghĩ. Mình muốn buông xuôi tất cả, và thả người trôi xuống, xuống nữa, như là một trong mấy chiếc lá mệt mỏi kia.

Johnsy nhắm mắt lại, mặt tái nhợt, năm yên như la một cái tượng bị sập đổ. – Ráng ngủ đi. Mình muốn kêu ông Behrman lên để ngồi mẫu cho mình vẽ một ông thợ mỏ già cô độc. Mình chỉ đi một phút. Đừng cựa quậy cho đến khi mình trở lại.

Ông già Behrman là một họa sĩ sống ở tầng trệt bên dưới phòng của họ. Ông đã quá sáu mươi, và có một chòm râu rậm như ông Moses hiện thân trên bức điêu khắc của Michael Angelo. Behrman là cả một sự thất bại trong nghệ thuật. Trong bốn mươi năm ông vung vẩy chiếc cọ mà không hề chạm gần đến vạt áo của Người Tình. Ông luôn luôn muốn vẽ nên một kiệt tác, nhưng chưa bao giờ bắt đầu. Trong vài năm nay ông không vẽ được gì ngoại trừ thỉnh thoảng ít nét quấy quá cho giới thương mại và quảng cáo. Ông kiếm tiền chút đỉnh bằng việc ngồi làm mẫu cho các hoạ sĩ trẻ trong quần cư khi họ không muốn trả theo giá của người mẫu chuyên nghiệp. Ông uống rượu gin lu bù, và vẫn nói đến kiệt tác sắp đến của ông. Còn lại thì Behrnam là một ông già nhỏ thó nhưng dữ tợn, hay chửi như té tát người nào tỏ ra yếu đuối, và xem mình như là con chó giữ nhà để bảo vệ cho hai hoạ sĩ trẻ sống ở tấng trên.

Sue tìm gặp behrman khi ông nồng nặc mùi rượu dâu trong căn phòng nhỏ tối tù mù. Trong một góc là cái giá vẽ với khung vải trống trơn, suốtt hai mươi lăm năm vẫn chờ đợi đường nét đầu tiên của một kiệt tác. Cô nói cho ông nghe về chuyện hão huyền của Johnsy, về việc cô nàng – quả thật nhẹ tênh và mỏng manh như một chiếc lá – sẽ trôi đi khi sự bám víu của cô vào trần thế vốn đã yếu sẽ yếu thêm.

Ông già Behrman, với cặp mắt đỏ sòng sọc, lớn tiếng kinh thường và chế diễu cho những điều tưởng tượng ngốc nghếch:
– Khốn khổ! ở đời sao lại có người ngu xuẩn muốn chết vì mấy cái lá rụng từ một dây leo vô duyên như vậy? Tao chưa bao giờ nghe có chuyện này. Không tao sẽ không ngòi làm mẫu cho một đứa ẩn cưa ngu ngốc như mày. Tại sao mày lại để ý tưởng khùng điên đấy đi vào đầu của nó? Ôi dào, cái con nhỏ Johnsy khốn khổ!
– Chị ấy đang yếu lắm, và cơn sốt làm cho đầu óc chị ấy trở nên bệnh hoạn đầy những mơ tưởng kỳ quái. Được rồi, nếu ông không muốn ngồi làm mẫu cho tôi cũng được. Nhưng tôi nghĩ ông là một ông già xấu tính – già vô tích sự.
Ông Behrman tru tréo lên:
– Mày đúng là đàn bà! Ai bảo tao không muốn ngồi làm mẫu? Đi lên đi. Tao sẽ đến. Cả nửa giờ đồng hồ rồi tao đã nói là tao sẵn sàng ngồi. Trời ơi! Đây không phải là chỗ cô Johnsy có thể năm bẹp dưỡng bệnh được. Một ngày nào đấy tao sẽ vẽ nên một kiệt tác, và bọn mình sẽ rời đi nơi khác. Trời ơi! Đúng là phải như thế.
Johnst đang ngủ khi họ lên. Sue buông cái rèm cửa xuống, ra dấu bảo Behrman đi vào phòng kia. Trong đấy, xuyên qua khung cửa sổ họ nhìn dây thường
Xuân với nỗi lo sợ. Rồi họ nhìn nhau một lúc, không nói lời nào. Một cơn mưa giá lạnh đang ập xuống dai dẳng, pha cùng với tuyết. Trong chiếc áo xanh cũ kỹ, Behrman ngồi làm mẫu, giả làm một thợ mỏ ẩn cư, ngồi trên một cái ấm lật ngược giả làm một tảng đá.

Khi Sue thức giấc vào buổi sáng sau giấc ngủ kéo dài một giờ, cô thấy Johnsy đang vô hòn nhìn cái rèm màu sậm đã buông xuống. Johnsy thì thào:
– Kéo rèm lên. Mình muốn nhìn.
Sue mệt mỏi làm theo bạn.

– Nhưng xem kìa! Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió xoáy dữ tợn suốt một đêm dài, vẫn còn một chiếc lá thường Xuân dựa trên bức tường gạch. Đấy là chiếc lá cuối cùng. Vẫn còn có mầu xanh thẫm gần cuống, nhưng với phần rìa te tua pha mầu vàng của sự tàn tạ, chiếc lá vẫn dũng cảm bám vào cái cành cao dăm bảy mét cách mặt đất.
Johnsy nói: – Đấy là chiếc lá cuối cùng. Mình nghĩ chắc chắn nó đã rụng đêm qua. Mình nghe tiếng gió. Nó sẽ rụng hôm nay, và mình sẽ chết cùng lúc với nó.
Sue nghiêng khuôn mặt tóp của cô kề cận cái gối:
– Cưng ơi là cưng! Nếu cưng không nghĩ đến chính bản thân cưng thì nên nghĩ đến mình đây. Mình sẽ làm được gì chứ?
Nhưng Johnsy không trả lời. Nỗi cô đơn cùng cực nhất trên thế gian là một linh hồn chuẩn bị tiếp tục cuộc hành trình bí ẩn, xa thẳm. Điều mộng tưởng dường như đã ảm ảnh cô mạnh mẽ hơn khi những dây nối buộc cô với tình bạn và với trần thế đã bị lơi lỏng.

Ngày dần trôi, và dù qua khoảng không xám xịt, họ vẫn thấy chiếc lá đơn độc bảm vào cuống của nó, dựa vào bức tường. Và rồi, khi màn đêm buông xuống, gió bắc lại thổi, trong khi mưa vẫn đập vào các cửa sổ, chảy ồng ộc xuống theo rìa mái nhà kiểu Hà Lan.
Khi đã có đủ ánh sáng buổi tinh sương, Johnsy, con người vô cảm, lại ra lệnh kéo cái rèm xuống. Chiếc lá thường Xuân vẫn còn đấy.

Johnsy nằm một hồi lâu nhìn nó. Và rồi cô gọi Sue, đang quậy nồi cháo ga trên cái bếp ga. Cô nói:
– Minh là đứa hư, Sue à. Có cái gì đó đã khiến chiếc lá vẫn ở đấy để cho thấy mình quả là độc ác. Muốn chết là một cái tội. Bây giờ bồ có thể mang cho mình chút cháo, và ít sữa pha chút rượu vang póc- tô, và… không, mang trước cho mình cái gương soi cầm tay, rồi chèn ít cái gối quanh mình, rồi mình sẽ ngồi lên để xem bồ nấu nướng.

Một giờ sau, cô nói:
– Sue à, một ngày nào đấy mình sẽ vẽ cảnh vịnh Naples. Ông bác sĩ đến vào buổi xế chiều, và khi ông trở ra Sue có cớ để đi ra ngoài hành lanh. Ông nắm lấy bàn tay gầy, run rẩy của Sue đặt trong tay ông.
– Cơ may ngang bằng. Với công chăm sóc tận tuỵ của cô, cô sẽ thắng. Và giờ tôi phải đến thăm một ca khác ở tầng dưới. Người bệnh là Behrman – tôi nghĩ chừng đâu là một hoạ sĩ. Cũng viêm phổi. Ông ta già cả, yếu đuối, cơn bệnh lại là cấp tính. Không có hi vọng gì, nhưng tôi sẽ đưa ông đến bệnh viện để được thoải mái hơn. Ngày kế, ông bác sĩ bảo Sue:
– Cô ấy qua khỏi cơn nguy rồi. Cô đã thắng. Bây giờ chỉ cần dinh dưỡng và chăm sóc – chỉ có thế thôi. Buổi chiều ấy, khi Johsy đang đan một cái khăn quàng len mầu lam thật đậm và xem vẻ rất vô dụng, Sue đến bên giường cô, đặt cánh tay quanh cô và cũng quanh mấy cái gối.

– Mình có chuyện này nói cho bồ biết, cái con chuột trắng ơi. Ông Behrman qua đời hôm nay ở bệnh viện vì chứng viêm phổi. Ông ấy nhuốm bệnh chỉ trong có hai ngày. Người gác dan tìm thấy ông sáng ngày đầu tiên trong căn phòng tầng dưới, thất thủ với cân đau đớn. Đôi giầy và quần áo ông ấy bị ướt cả, lạnh như nước đá. Họ không thể hiểu nổi ông đã đi đâu trong một đêm kinh hoàng như thế. Và rồi họ tìm thấy cái đèn bão, vẫn cháy, và một cái thang đã bị rời khỏi nơi cất giữ, vài cây cọ tơi tả, và nghiên mầu mới ít mầu xanh và vàng, bồ nhìn ra ngoài cửa sổ xem, nhìn chiếc lá thường Xuân cuối cùng trên bức tường đấy. Bồ có đặt nghi vấn tại sao nó không bao giờ bay lất phất khi có gió thổi không? Cưng ơi, đó là kiệt tác của ông Behrman đấy – ông đã vẽ nó đúng vào đêm chiếc lá cuối cùng rơi rụng.